
Đăng ký tư vấn
Tư vấn Long Phan nhận được rất nhiều câu hỏi từ doanh nghiệp F&B về việc tự công bố hay đăng ký bản công bố sản phẩm F&B trước khi đưa hàng ra thị trường, đặc biệt sau khi có thông tin về Nghị định 46/2026/NĐ-CP siết lại cơ chế công bố. Đây là bước bắt buộc thuộc lĩnh vực cập nhật pháp luật mà doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm không thể bỏ qua, vì chọn sai thủ tục dẫn đến hàng hóa bị đình chỉ lưu hành hoặc doanh nghiệp bị xử phạt. Bài viết dưới đây phân loại chính xác từng nhóm sản phẩm F&B phổ biến theo văn bản pháp luật hiện hành và chỉ ra quy trình, hồ sơ, thời hạn xử lý tương ứng.

Lưu ý pháp lý quan trọng:
Nghị định 15/2018/NĐ-CP quy định hai cơ chế quản lý hoàn toàn khác nhau cho sản phẩm thực phẩm: tự công bố theo cơ chế hậu kiểm và đăng ký bản công bố theo cơ chế tiền kiểm. Doanh nghiệp cần hiểu đúng bản chất của từng cơ chế trước khi xác định thủ tục áp dụng cho sản phẩm cụ thể.
Theo Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải tự công bố các sản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh. Theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, việc tự công bố được thực hiện bằng cách công bố trên phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử của mình hoặc niêm yết công khai tại trụ sở, đồng thời nộp một bản đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; ngay sau khi tự công bố, doanh nghiệp được sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về an toàn của sản phẩm.
Theo Điều 6 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, một số nhóm sản phẩm có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng (thực phẩm bảo vệ sức khỏe, sản phẩm cho trẻ nhỏ…) phải đăng ký bản công bố. Theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, cơ quan tiếp nhận thẩm định hồ sơ trước khi cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm, và doanh nghiệp chỉ được đưa sản phẩm ra thị trường sau khi có Giấy tiếp nhận này.
Khoản 1 Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP xác định phạm vi sản phẩm thuộc diện tự công bố. Đây là nhóm chiếm phần lớn hàng hóa F&B lưu thông trên thị trường như nước giải khát, bánh kẹo, gia vị, đồ uống có cồn thông thường.
Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực hiện tự công bố đối với thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, trừ các sản phẩm quy định tại khoản 2 Điều 4 và Điều 6 Nghị định này. Nhóm này bao trùm phần lớn sản phẩm F&B thông dụng: nước giải khát, bánh kẹo, đồ uống có cồn, sữa chế biến, thực phẩm đóng hộp.
Cùng thuộc diện tự công bố theo khoản 1 Điều 4 là phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ chứa đựng thực phẩm và vật liệu bao gói tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm. Theo Điều 31 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, điều kiện là phụ gia phải nằm trong danh mục phụ gia được phép sử dụng do Bộ Y tế quy định; theo khoản 1 Điều 32, nếu là phụ gia hỗn hợp có công dụng mới thì chuyển sang diện đăng ký bản công bố tại Bộ Y tế theo khoản 3 Điều 6.
Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, sản phẩm, nguyên liệu sản xuất, nhập khẩu chỉ dùng để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu hoặc phục vụ sản xuất nội bộ của tổ chức, cá nhân, không tiêu thụ tại thị trường trong nước được miễn thực hiện thủ tục tự công bố sản phẩm. Doanh nghiệp cần lưu hồ sơ chứng minh mục đích sử dụng nội bộ hoặc xuất khẩu để tránh bị hiểu nhầm là bỏ sót nghĩa vụ công bố.

Điều 6 Nghị định 15/2018/NĐ-CP liệt kê giới hạn ba nhóm sản phẩm bắt buộc đăng ký bản công bố, đều là nhóm có tác động trực tiếp đến sức khỏe nhóm người tiêu dùng nhạy cảm hoặc có công dụng đặc biệt cần cơ quan chuyên môn thẩm định trước khi lưu hành.
Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, ba nhóm sản phẩm này bắt buộc đăng ký bản công bố. Theo điểm a, điểm b khoản 1 Điều 8, hồ sơ nộp tại Bộ Y tế đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe, hoặc tại cơ quan do UBND cấp tỉnh chỉ định đối với thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt. Doanh nghiệp thường nhầm nhóm thực phẩm chức năng dạng viên, cốm, bột với thực phẩm bao gói sẵn thông thường, dẫn đến áp sai thủ tục.
Khoản 2 Điều 6 Nghị định 15/2018/NĐ-CP quy định sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi phải đăng ký bản công bố; theo điểm b khoản 1 Điều 8, hồ sơ nộp tại cơ quan do UBND cấp tỉnh chỉ định. Đây là nhóm sản phẩm F&B dễ bị nhầm lẫn nhất với sản phẩm bao gói sẵn thông thường, ví dụ sữa công thức, bột ăn dặm, sữa hạt dành riêng cho trẻ nhỏ.
Khoản 3 Điều 6 Nghị định 15/2018/NĐ-CP quy định phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới, phụ gia không thuộc danh mục phụ gia được phép sử dụng hoặc không đúng đối tượng sử dụng do Bộ Y tế quy định phải đăng ký bản công bố. Theo khoản 1 Điều 32 và điểm a khoản 1 Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, hồ sơ nộp tại Bộ Y tế theo trình tự quy định tại Điều 7, Điều 8 Nghị định này. Doanh nghiệp sản xuất phụ gia pha trộn theo công thức riêng cần đặc biệt lưu ý nhóm này.
>>Xem thêm: Đăng ký bản công bố sản phẩm sản xuất trong nước đối với thực phẩm dinh dưỡng y học

Bảng dưới đây tổng hợp các loại sản phẩm F&B phổ biến, đối chiếu với thủ tục áp dụng và căn cứ điều khoản cụ thể theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP.
| Loại sản phẩm F&B | Thủ tục áp dụng | Căn cứ pháp lý |
| Nước giải khát, đồ uống đóng chai, nước ngọt có ga | Tự công bố | Khoản 1 Điều 4 |
| Bánh kẹo, mứt, thực phẩm bao gói sẵn thông thường | Tự công bố | Khoản 1 Điều 4 |
| Rượu, bia, đồ uống có cồn | Tự công bố | Khoản 1 Điều 4 |
| Phụ gia thực phẩm trong danh mục cho phép | Tự công bố | Khoản 1 Điều 4, Điều 31 |
| Sữa công thức, bột ăn dặm, sữa hạt cho trẻ đến 36 tháng tuổi | Đăng ký bản công bố | Khoản 2 Điều 6 |
| Thực phẩm chức năng, thực phẩm bảo vệ sức khỏe dạng viên/cốm/bột | Đăng ký bản công bố | Khoản 1 Điều 6 |
| Thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt | Đăng ký bản công bố | Khoản 1 Điều 6 |
| Phụ gia hỗn hợp có công dụng mới hoặc ngoài danh mục | Đăng ký bản công bố | Khoản 3 Điều 6 |
| Sản phẩm chỉ để sản xuất nội bộ, gia công hàng xuất khẩu | Miễn tự công bố | Khoản 2 Điều 4 |
Quý doanh nghiệp đang phân vân sản phẩm của mình rơi vào nhóm nào có thể gửi tên sản phẩm, thành phần và mục đích sử dụng qua email info@longphanpmt.com hoặc Zalo 0906.735.386 để được rà soát sơ bộ trước khi chuẩn bị hồ sơ.
Hồ sơ và nơi nộp khác nhau đáng kể giữa tự công bố và đăng ký bản công bố, đồng thời hồ sơ đăng ký bản công bố còn phân biệt giữa sản phẩm sản xuất trong nước và sản phẩm nhập khẩu.
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, hồ sơ tự công bố gồm bản tự công bố sản phẩm theo Mẫu số 01 Phụ lục I và phiếu kết quả kiểm nghiệm an toàn thực phẩm trong thời hạn 12 tháng, do phòng kiểm nghiệm được chỉ định hoặc được công nhận ISO 17025 cấp. Theo điểm a khoản 2 Điều 5, doanh nghiệp nộp một bản đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền do UBND cấp tỉnh chỉ định tại địa phương đặt trụ sở hoặc cơ sở sản xuất.
Theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, hồ sơ gồm bản công bố sản phẩm theo Mẫu số 02 Phụ lục I, phiếu kết quả kiểm nghiệm an toàn thực phẩm, bằng chứng khoa học chứng minh công dụng đã công bố, Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm (nếu thuộc đối tượng phải cấp) và Giấy chứng nhận GMP đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe sản xuất trong nước.
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, hồ sơ đối với sản phẩm nhập khẩu bổ sung thêm Giấy chứng nhận lưu hành tự do (Certificate of Free Sale) hoặc Giấy chứng nhận y tế (Health Certificate) của nước xuất xứ đã hợp pháp hóa lãnh sự, cùng bằng chứng khoa học và Giấy chứng nhận GMP tương đương đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe nhập khẩu.
Theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, hồ sơ đăng ký bản công bố nộp đến Bộ Y tế đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe và phụ gia hỗn hợp có công dụng mới hoặc ngoài danh mục; nộp đến cơ quan do UBND cấp tỉnh chỉ định đối với thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt và sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ đến 36 tháng tuổi. Doanh nghiệp sản xuất nhiều loại thực phẩm thuộc thẩm quyền của cả hai cơ quan được quyền lựa chọn nơi nộp phù hợp.
Thời gian xử lý là yếu tố quyết định tiến độ đưa sản phẩm ra thị trường, đặc biệt với doanh nghiệp cần ra mắt sản phẩm theo mùa vụ hoặc chiến dịch kinh doanh cụ thể.
Theo điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, ngay sau khi tự công bố sản phẩm, tổ chức, cá nhân được quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm và chịu trách nhiệm hoàn toàn về an toàn của sản phẩm đó. Cơ quan quản lý nhà nước chỉ tiếp nhận hồ sơ để lưu trữ và đăng tải công khai, không thực hiện thẩm định trước.
Theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, cơ quan tiếp nhận thẩm định hồ sơ và cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố trong thời hạn 7 ngày làm việc đối với thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ đến 36 tháng tuổi và phụ gia hỗn hợp; thời hạn 21 ngày làm việc đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe. Theo khoản 3 Điều 8, cơ quan tiếp nhận chỉ được yêu cầu sửa đổi, bổ sung một lần; sau 90 ngày kể từ công văn yêu cầu mà doanh nghiệp không bổ sung thì hồ sơ không còn giá trị.
Từ thực tiễn tư vấn, Tư vấn Long Phan ghi nhận ba nhóm sai lầm lặp lại ở nhiều doanh nghiệp F&B, đều xuất phát từ việc chưa phân định đúng ranh giới giữa hai thủ tục hoặc bỏ sót nghĩa vụ công bố lại.
Doanh nghiệp sản xuất sữa hạt, bột dinh dưỡng, bánh ăn dặm dành riêng cho trẻ nhỏ thường tự công bố như thực phẩm bao gói sẵn thông thường, trong khi khoản 2 Điều 6 Nghị định 15/2018/NĐ-CP bắt buộc đăng ký bản công bố. Hậu quả là sản phẩm bị coi như chưa được cấp phép lưu hành hợp lệ.
Đây là lỗi phổ biến trong công tác hậu kiểm của Cục An toàn thực phẩm, thường xảy ra với phụ gia hỗn hợp có công dụng mới (khoản 3 Điều 6 Nghị định 15/2018/NĐ-CP) hoặc thực phẩm bảo vệ sức khỏe (khoản 1 Điều 6) bị doanh nghiệp nhầm là thực phẩm bao gói sẵn thuộc diện tự công bố theo khoản 1 Điều 4. Sản phẩm tự công bố sai diện bị coi như chưa hoàn thành thủ tục công bố hợp lệ và có thể bị xử lý theo Điều 20, Điều 22 Nghị định 115/2018/NĐ-CP. Doanh nghiệp cần đối chiếu kỹ thành phần, công dụng công bố với Điều 6 trước khi chọn tự công bố.
Theo khoản 4 Điều 5 và khoản 4 Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, khi sản phẩm thay đổi về tên, xuất xứ hoặc thành phần cấu tạo, tổ chức, cá nhân phải tự công bố lại hoặc công bố lại sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp chỉ thông báo bằng văn bản theo thủ tục thay đổi thông thường, dẫn đến hồ sơ công bố không còn phản ánh đúng sản phẩm đang lưu hành.
>>>Xem thêm: Doanh Nghiệp Còn Được Tự Công Bố Sản Phẩm Thực Phẩm sau 16/04/2026?
Tư vấn Long Phan hỗ trợ doanh nghiệp F&B các công việc cụ thể sau:
Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua email info@longphanpmt.com hoặc Zalo 0906.735.386 để được đánh giá sơ bộ.
Dưới đây là các câu hỏi long-tail doanh nghiệp F&B thường đặt ra khi xác định thủ tục công bố sản phẩm.
Không. Nước giải khát có ga thuộc nhóm thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, doanh nghiệp thực hiện tự công bố và được sản xuất, kinh doanh ngay sau khi tự công bố.
Nếu sữa hạt được ghi nhãn và định vị dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi thì thuộc diện đăng ký bản công bố theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 15/2018/NĐ-CP. Nếu sản phẩm dành cho đối tượng người tiêu dùng thông thường, không định vị cho trẻ nhỏ, thì thuộc diện tự công bố theo khoản 1 Điều 4.
Theo điểm b khoản 1 Điều 20 Nghị định 115/2018/NĐ-CP (sửa đổi bởi điểm a khoản 10 Điều 1 Nghị định 124/2021/NĐ-CP), hành vi không công bố trên Hệ thống thông tin dữ liệu cập nhật về an toàn thực phẩm hoặc không nộp bản tự công bố đến cơ quan có thẩm quyền bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân (30.000.000 – 40.000.000 đồng đối với tổ chức theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 115/2018/NĐ-CP sửa đổi). Nếu sản phẩm đã bán ra thị trường mà không đạt tiêu chuẩn tự công bố, doanh nghiệp còn có thể bị phạt theo giá trị lô hàng vi phạm quy định tại Điều 22 Nghị định này.
Không. Theo điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, doanh nghiệp được quyền sản xuất, kinh doanh sản phẩm ngay sau khi tự công bố, không cần chờ cơ quan quản lý nhà nước xác nhận hay phản hồi.
Theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP, thời hạn thẩm định hồ sơ đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe là 21 ngày làm việc kể từ khi cơ quan tiếp nhận nhận đủ hồ sơ hợp lệ, chưa tính thời gian bổ sung hồ sơ nếu có.
Hiện nay áp dụng Nghị định 15/2018/NĐ-CP. Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP đã bị Nghị quyết 15/2026/NQ-CP tạm ngưng hiệu lực cho đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và Nghị định hướng dẫn Luật này có hiệu lực thi hành.
Chỉ bắt buộc công bố lại khi thay đổi tên sản phẩm, xuất xứ hoặc thành phần cấu tạo theo khoản 4 Điều 5 và khoản 4 Điều 8 Nghị định 15/2018/NĐ-CP. Trường hợp chỉ thay đổi bao bì mà không thay đổi các nội dung trên, doanh nghiệp chỉ cần thông báo bằng văn bản đến cơ quan tiếp nhận hồ sơ.
Việc xác định đúng giữa tự công bố hay đăng ký bản công bố sản phẩm F&B quyết định trực tiếp đến tính hợp pháp và tiến độ đưa sản phẩm ra thị trường của doanh nghiệp. Nghị định 15/2018/NĐ-CP vẫn là căn cứ pháp lý áp dụng hiện nay, trong khi Nghị định 46/2026/NĐ-CP đang tạm ngưng hiệu lực chờ Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Tư vấn Long Phan sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp F&B rà soát phân loại sản phẩm và thực hiện đầy đủ thủ tục công bố đúng quy định. Quý doanh nghiệp cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900636389 để được hỗ trợ kịp thời.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:








Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của công ty Tư vấn Long Phan chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng các chính sách pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến tư vấn cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Long Phan sẽ là nơi cung cấp giải pháp đáng tin cậy của Quý khách hàng.
Để lại email để nhận thông tin mới nhất từ chúng tôi