Thủ tục hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp từ 01/7/2026

Mục Lục Bài Viết

Tư vấn Long Phan nhận thấy thủ tục hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp đã có thay đổi lớn từ ngày 01/7/2026. Luật Việc làm 74/2025/QH15 và Nghị định 352/2025/NĐ-CP vẫn đang có hiệu lực, nhưng trong thời gian áp dụng Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, một số quy định về giấy phép và thủ tục hành chính trong lĩnh vực dịch vụ việc làm không tiếp tục được thực hiện. Doanh nghiệp vì vậy cần phân biệt giữa quy định gốc vẫn tồn tại và cơ chế đặc biệt đang được áp dụng để tránh thực hiện thủ tục theo cơ chế cũ.

Thủ tục hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp từ 01/7/2026 theo cơ chế thông báo
Từ 01/7/2026, doanh nghiệp chuyển từ cơ chế xin giấy phép sang thông báo hoạt động, công khai thông tin và thực hiện nghĩa vụ hậu kiểm.

Lưu ý pháp lý quan trọng:

  • Từ ngày 01/7/2026, không tiếp tục thực hiện cơ chế cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm và thủ tục rút tiền ký quỹ theo quy định cũ trong phạm vi Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP.
  • Doanh nghiệp chuyển sang thông báo hoạt động với Sở Nội vụ nơi đặt trụ sở chínhnh qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia; đồng thời vẫn phải công khai thông tin, niêm yết giá, cập nhật dữ liệu và thực hiện chế độ báo cáo.
  • Dự án thuộc diện điều chỉnh chủ trương phải thực hiện đúng thứ tự: chấp thuận điều chỉnh trước, cập nhật IRC sau trong 05 ngày làm việc kể từ khi có quyết định.
  • Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực đến hết 28/02/2027; nếu có văn bản mới quy định tương ứng và có hiệu lực thì phần nội dung tương ứng của Nghị quyết sẽ hết hiệu lực.

Vì sao doanh nghiệp không còn phải xin giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm từ 01/7/2026?

Theo Điều 28 Luật Việc làm 2025, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm theo cơ chế pháp luật gốc là doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật doanh nghiệp và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm. Luật cũng yêu cầu doanh nghiệp có cơ sở vật chất, nhân sự và thực hiện ký quỹ theo quy định.

Nghị định 352/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, cụ thể hóa cơ chế này. Theo Điều 15 Nghị định, điều kiện cấp giấy phép bao gồm trụ sở đáp ứng yêu cầu về thời hạn sử dụng, ký quỹ 300 triệu đồng và điều kiện đối với người đại diện theo pháp luật. Điều 13 đến Điều 20 quy định thẩm quyền và thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép. Nghị định 352/2025/NĐ-CP hiện vẫn còn hiệu lực.

Tuy nhiên, từ ngày 01/7/2026, Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP quy định không thực hiện các thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn và thu hồi Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm tại Nghị định 352/2025/NĐ-CP. Nghị quyết cũng không thực hiện phần quy định tại khoản 5 Điều 28 Luật Việc làm liên quan đến mẫu giấy phép, hồ sơ và thủ tục tương ứng.

Cơ chế này được ban hành trên cơ sở Nghị quyết 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật. Nghị quyết 206/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 24/6/2025 đến hết ngày 28/02/2027.

Do đó, cần diễn đạt chính xác rằng các thủ tục cấp phép nêu trên tạm thời không được thực hiện trong thời gian cơ chế đặc biệt có hiệu lực, thay vì kết luận rằng Điều 28 Luật Việc làm hoặc toàn bộ Nghị định 352/2025/NĐ-CP đã bị bãi bỏ. Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP cũng xác định Chính phủ, các bộ phải tiếp tục hoàn thiện văn bản pháp luật để bảo đảm cơ chế mới được đồng bộ trước ngày 01/3/2027.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 thực hiện cắt giảm, sửa đổi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư 143/2025/QH15, giảm tổng số ngành, nghề thuộc Danh mục từ 198 xuống còn 142. Đây là một phần của chương trình cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh triển khai đồng thời với Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP.

Doanh nghiệp muốn bắt đầu hoạt động dịch vụ việc làm từ 01/7/2026 cần làm gì?

Do thủ tục cấp giấy phép không tiếp tục được thực hiện từ ngày 01/7/2026 theo Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, doanh nghiệp mới cần chuyển trọng tâm từ việc chuẩn bị hồ sơ xin cấp giấy phép sang hoàn tất đăng ký doanh nghiệp và thực hiện đúng các nghĩa vụ thông báo, công khai và quản lý hoạt động.

Hoàn tất đăng ký doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh phù hợp

Trước khi hoạt động, doanh nghiệp phải được thành lập hợp pháp theo pháp luật về doanh nghiệp và đăng ký ngành, nghề phù hợp với phạm vi hoạt động dự kiến. Khoản 1 Điều 28 Luật Việc làm 2025 xác định doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm trước hết phải là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

Từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp không phải thực hiện thủ tục xin cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm tại Điều 13, Điều 14, Điều 15 và Điều 17 Nghị định 352/2025/NĐ-CP trong thời gian Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP được áp dụng.

Do đó, doanh nghiệp mới không nên tiếp tục chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép theo cơ chế cũ, nhưng vẫn phải bảo đảm việc thành lập, đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ quản lý chuyên ngành đang được Nghị quyết giữ lại hoặc điều chỉnh.

Thông báo hoạt động tới Sở Nội vụ trước khi bắt đầu kinh doanh

Nghĩa vụ thông báo là một trong những nội dung trực tiếp thay thế cho cơ chế quản lý bằng thủ tục cấp phép trước khi hoạt động.

Theo khoản D.IV.2 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, trong thời hạn 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu hoạt động dịch vụ việc làm, doanh nghiệp phải thông báo cho Sở Nội vụ nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính thông qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia. Khi chấm dứt hoạt động, doanh nghiệp cũng phải thực hiện thông báo theo mốc thời gian này.

Quy định này đã thay đổi so với khoản 2 Điều 22 Nghị định 352/2025/NĐ-CP, vốn yêu cầu doanh nghiệp thông báo bằng văn bản trước 10 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu hoạt động. Trong thời gian Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực, nội dung khác nhau phải thực hiện theo Nghị quyết.

Doanh nghiệp nên lưu giữ thông tin hoặc xác nhận điện tử thể hiện thời điểm đã gửi thông báo để phục vụ việc chứng minh tuân thủ khi cơ quan quản lý thực hiện hậu kiểm.

Công khai thông tin hoạt động dịch vụ việc làm

Sau khi bắt đầu hoạt động, doanh nghiệp tiếp tục phải công khai thông tin để người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan quản lý có thể xác định chủ thể cung cấp dịch vụ.

Theo khoản D.IV.1 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu hoạt động dịch vụ việc làm, doanh nghiệp phải thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng về:

  • Địa điểm hoạt động;
  • Lĩnh vực hoạt động;
  • Tên người đại diện theo pháp luật thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm;
  • Trang thông tin điện tử (website), nếu có;
  • Email;
  • Số điện thoại liên hệ.

Điểm cần cập nhật so với Điều 22 Nghị định 352/2025/NĐ-CP là mốc 20 ngày hiện được tính từ ngày bắt đầu hoạt động, thay vì từ ngày được cấp Giấy phép; đồng thời nội dung công khai không còn đặt trọng tâm vào Giấy phép trong cơ chế hiện hành.

Xem thêm: Quy trình thiết lập đề án hoạt động và xin giấy phép ICP cho hệ thống của DN

Các bước doanh nghiệp bắt đầu hoạt động dịch vụ việc làm từ 01/7/2026
Doanh nghiệp cần hoàn tất đăng ký phù hợp, thông báo Sở Nội vụ trước khi hoạt động và thực hiện công khai thông tin theo trình tự trong bài.

Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm phải thực hiện những nghĩa vụ gì trong quá trình kinh doanh?

Việc không thực hiện thủ tục cấp giấy phép không đồng nghĩa doanh nghiệp được miễn các nghĩa vụ quản lý chuyên ngành. Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP duy trì và điều chỉnh nhiều trách nhiệm tại Điều 23 Nghị định 352/2025/NĐ-CP, bao gồm niêm yết thông tin, cập nhật kết quả tuyển dụng, quản lý dữ liệu, bảo mật dữ liệu và báo cáo định kỳ.

Niêm yết công khai thông tin và giá dịch vụ

Doanh nghiệp phải niêm yết công khai tại trụ sở chính thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm và tại chi nhánh các thông tin phục vụ khách hàng và cơ quan quản lý.

Theo khoản D.V.1 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, nội dung niêm yết gồm lịch làm việc, giá dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm và thông tin liên hệ của doanh nghiệp, gồm tên doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh, website nếu có, email và số điện thoại liên hệ.

Do cơ chế giấy phép đang không tiếp tục thực hiện đối với doanh nghiệp bắt đầu hoạt động theo quy định mới, phần nghĩa vụ được Nghị quyết thiết kế lại không còn yêu cầu doanh nghiệp mới niêm yết bản sao chứng thực Giấy phép như khoản 1 Điều 23 Nghị định 352/2025/NĐ-CP trước đó.

Cập nhật kết quả tuyển dụng và theo dõi tình trạng việc làm

Doanh nghiệp không chỉ giới thiệu việc làm mà còn phải cập nhật kết quả và theo dõi tình trạng việc làm của người lao động được giới thiệu.

Theo khoản D.V.2 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày người sử dụng lao động thông báo tuyển dụng người lao động, doanh nghiệp phải cập nhật kết quả trên Sàn giao dịch việc làm quốc gia.

Doanh nghiệp đồng thời phải theo dõi tình trạng việc làm của người lao động do mình giới thiệu tối thiểu 01 tháng; trường hợp hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng thì theo dõi trong thời gian thực hiện hợp đồng. Đây là nội dung hiện được quy định tại cơ chế áp dụng từ ngày 01/7/2026.

Quản lý và bảo mật dữ liệu người lao động

Hoạt động dịch vụ việc làm gắn trực tiếp với khối lượng lớn dữ liệu cá nhân của người tìm việc và thông tin tuyển dụng của doanh nghiệp, nên trách nhiệm quản lý dữ liệu vẫn tiếp tục được duy trì.

Theo khoản D.V.3 và D.V.4 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, doanh nghiệp phải lập, cập nhật, quản lý dữ liệu của người lao động đăng ký tư vấn, giới thiệu việc làm và người sử dụng lao động đăng ký tuyển dụng; đồng thời thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ.

Doanh nghiệp còn phải bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu cá nhân, dữ liệu lao động và dữ liệu giao dịch việc làm theo pháp luật; xây dựng biện pháp phòng ngừa, phát hiện, cảnh báo và ngăn chặn hành vi gian lận, lừa đảo trong hoạt động dịch vụ việc làm. Doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức thương mại điện tử còn có trách nhiệm kết nối, chia sẻ và đồng bộ dữ liệu trên Sàn giao dịch việc làm quốc gia.

Nghĩa vụ báo cáo định kỳ

Chế độ báo cáo vẫn là công cụ quan trọng để Sở Nội vụ thực hiện quản lý theo cơ chế hậu kiểm.

Theo khoản D.V.7 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, doanh nghiệp phải báo cáo kết quả hoạt động dịch vụ việc làm tới Sở Nội vụ thông qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia:

  • Báo cáo 06 tháng: trước ngày 20/6;
  • Báo cáo hằng năm: trước ngày 20/12.

Thời gian chốt số liệu báo cáo 06 tháng được tính từ ngày 15/12 của năm trước đến ngày 14/6 của kỳ báo cáo; báo cáo năm được tính từ ngày 15/12 của năm trước đến ngày 14/12 của kỳ báo cáo.

Ngoài ra, trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hoạt động dịch vụ việc làm, doanh nghiệp phải thanh lý các hợp đồng dịch vụ đang thực hiện và hoàn thành nghĩa vụ, trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân theo quy định pháp luật.

>>> Xem thêm: Thời gian cấp Giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu

Nghĩa vụ doanh nghiệp dịch vụ việc làm về công khai, dữ liệu và báo cáo định kỳ
Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải duy trì niêm yết, cập nhật tuyển dụng, bảo mật dữ liệu và thực hiện báo cáo định kỳ.

Thành lập chi nhánh hoạt động dịch vụ việc làm từ 01/7/2026

Doanh nghiệp vẫn có quyền thành lập chi nhánh hoạt động dịch vụ việc làm trong nước theo pháp luật doanh nghiệp. Cơ chế áp dụng từ ngày 01/7/2026 tại khoản D.III Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP đã điều chỉnh Điều 21 Nghị định 352/2025/NĐ-CP theo hướng không tiếp tục gắn việc hoạt động của chi nhánh với thủ tục cấp giấy phép như trước đây.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày quyết định giao nhiệm vụ cho chi nhánh, doanh nghiệp phải thông báo cho Sở Nội vụ nơi đặt trụ sở chính thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm và Sở Nội vụ nơi đặt trụ sở chi nhánh nếu chi nhánh đặt tại tỉnh, thành phố khác với trụ sở chính.

Chi nhánh phải niêm yết công khai quyết định của doanh nghiệp giao nhiệm vụ hoạt động dịch vụ việc làm tại trụ sở. Đồng thời, chi nhánh thực hiện báo cáo 06 tháng trước ngày 20/6 và báo cáo hằng năm trước ngày 20/12 tới Sở Nội vụ nơi đặt chi nhánh thông qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia.

Trường hợp chuyển địa điểm đặt trụ sở chi nhánh, doanh nghiệp phải gửi văn bản tới Sở Nội vụ nơi đặt chi nhánh về địa điểm mới trong thời hạn 10 ngày làm việc trước ngày thực hiện chuyển địa điểm.

Doanh nghiệp đã ký quỹ hoặc đã được cấp giấy phép trước 01/7/2026 xử lý thế nào?

Đây là nhóm doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý quy định chuyển tiếp. Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP không làm mất hiệu lực ngay các giấy phép đã được cấp trước ngày 01/7/2026; đồng thời có cơ chế riêng cho khoản tiền ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ việc làm.

Doanh nghiệp đã ký quỹ 300 triệu đồng có được rút lại không?

Có. Trước ngày 01/7/2026, khoản 2 Điều 15 Nghị định 352/2025/NĐ-CP yêu cầu doanh nghiệp ký quỹ 300.000.000 đồng và Điều 16 quy định trình tự quản lý, rút tiền ký quỹ.

Tuy nhiên, khoản D.II.5 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP quy định không thực hiện thủ tục rút tiền ký quỹ tại khoản 4, khoản 5 Điều 16 và các mẫu tương ứng của Nghị định 352/2025/NĐ-CP.

Quan trọng hơn, khoản D.VI.2 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 quy định rõ: kể từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm đang thực hiện ký quỹ được rút tiền ký quỹ tại ngân hàng nhận ký quỹ mà không phải có văn bản đồng ý về việc rút tiền ký quỹ của cơ quan có thẩm quyền nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.

Do đó, doanh nghiệp đã ký quỹ theo cơ chế trước đây có thể liên hệ trực tiếp ngân hàng nhận ký quỹ để thực hiện thủ tục theo quy trình nghiệp vụ của ngân hàng, không phải xin văn bản đồng ý của cơ quan quản lý như cơ chế cũ.

Giấy phép đã được cấp trước 01/7/2026 còn giá trị không?

Có, nếu giấy phép vẫn còn thời hạn. Điều 7 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP quy định văn bản, giấy tờ đã được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hoặc cấp trước ngày Nghị quyết có hiệu lực mà chưa hết hiệu lực hoặc chưa hết thời hạn sử dụng thì tiếp tục được áp dụng, sử dụng cho đến khi hết thời hạn.

Quy định này phù hợp với nguyên tắc chuyển tiếp trước đó tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 352/2025/NĐ-CP, theo đó doanh nghiệp đã được cấp, cấp lại hoặc gia hạn Giấy phép trước ngày Nghị định có hiệu lực được tiếp tục hoạt động đến khi Giấy phép hết hạn, trừ trường hợp bị thu hồi theo quy định.

Tuy nhiên, từ ngày 01/7/2026, thủ tục gia hạn Giấy phép tại Điều 19 Nghị định 352/2025/NĐ-CP không tiếp tục được thực hiện trong thời gian Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực. Vì vậy, doanh nghiệp có giấy phép cũ vẫn còn hạn được tiếp tục sử dụng giấy phép đó đến hết hạn, đồng thời phải tuân thủ các nghĩa vụ hoạt động đang áp dụng; không nên hiểu rằng doanh nghiệp phải tiếp tục làm thủ tục gia hạn theo cơ chế cũ.

Rủi ro pháp lý doanh nghiệp cần lưu ý khi hoạt động dịch vụ việc làm từ 01/7/2026

Cơ chế mới giảm thủ tục hành chính nhưng đồng thời tăng trách nhiệm tự tuân thủ của doanh nghiệp. Việc bỏ thủ tục cấp phép không làm mất các nghĩa vụ thông báo, công khai, quản lý dữ liệu, báo cáo và trách nhiệm đối với người lao động, người sử dụng lao động.

Rủi ro nhầm lẫn rằng vẫn phải xin giấy phép

Do Luật Việc làm 2025 và Nghị định 352/2025/NĐ-CP vẫn còn hiệu lực trên hệ thống văn bản pháp luật, doanh nghiệp chỉ đọc riêng các văn bản này có thể hiểu rằng vẫn phải nộp hồ sơ cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm.

Tuy nhiên, trong thời gian Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực, các thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn và thu hồi Giấy phép nêu tại Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 không được thực hiện. Nếu quy định về thủ tục hành chính tại Nghị quyết khác với văn bản liên quan thì áp dụng Nghị quyết.

Vì vậy, doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ theo thủ tục cấp phép cũ có thể phát sinh thời gian và chi phí không cần thiết.

Rủi ro hiểu nhầm rằng bỏ giấy phép đồng nghĩa với việc không còn nghĩa vụ quản lý

Việc không thực hiện thủ tục cấp giấy phép không đồng nghĩa doanh nghiệp được hoạt động mà không chịu quản lý.

Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP vẫn quy định doanh nghiệp phải thông báo trước khi hoạt động, công khai thông tin, niêm yết giá, cập nhật kết quả tuyển dụng, theo dõi tình trạng việc làm, quản lý và bảo mật dữ liệu, phòng ngừa gian lận và thực hiện báo cáo định kỳ.

Doanh nghiệp vì vậy nên thiết lập quy trình nội bộ để theo dõi riêng từng nghĩa vụ và thời hạn. Vi phạm nghĩa vụ chuyên ngành vẫn có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý theo quy định xử lý vi phạm hành chính đang áp dụng tại thời điểm xảy ra hành vi; mức xử lý cụ thể cần xác định theo đúng hành vi và văn bản xử phạt còn hiệu lực tại thời điểm đó.

Rủi ro không thực hiện đúng thời hạn thông báo trước khi hoạt động

Theo khoản D.IV.2 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, doanh nghiệp phải thông báo Sở Nội vụ nơi đặt trụ sở chính thông qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia trong thời hạn 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu hoạt động.

Do đó, doanh nghiệp nên xác định trước ngày dự kiến bắt đầu hoạt động, tính đúng ngày làm việc và thực hiện thông báo đủ sớm. Đồng thời, nên lưu lại chứng từ hoặc dữ liệu điện tử chứng minh thời điểm đã gửi thông báo.

Sau khi bắt đầu hoạt động, doanh nghiệp còn phải lưu ý mốc 20 ngày làm việc để công khai thông tin; mốc 20/6 và 20/12 đối với báo cáo định kỳ; mốc 20 ngày làm việc để cập nhật kết quả tuyển dụng và các mốc riêng liên quan đến chi nhánh.

Dịch vụ tư vấn, ủy quyền thực hiện thủ tục hoạt động dịch vụ việc làm từ 01/7/2026

Tư vấn Long Phan hỗ trợ doanh nghiệp rà soát và thực hiện các công việc pháp lý liên quan đến hoạt động dịch vụ việc làm trong giai đoạn áp dụng cơ chế mới, bao gồm:

  • Rà soát ngành, nghề đăng ký kinh doanh và phạm vi hoạt động dự kiến;
  • Xác định quy định áp dụng giữa Luật Việc làm 74/2025/QH15, Nghị định 352/2025/NĐ-CP và Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP;
  • Tư vấn thủ tục thông báo bắt đầu hoạt động tới Sở Nội vụ;
  • Hỗ trợ chuẩn bị thông tin thực hiện thông báo qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia;
  • Tư vấn việc thành lập và giao nhiệm vụ hoạt động dịch vụ việc làm cho chi nhánh;
  • Rà soát nghĩa vụ công khai thông tin, niêm yết giá dịch vụ;
  • Xây dựng quy trình cập nhật kết quả tuyển dụng và theo dõi tình trạng việc làm;
  • Rà soát quy trình quản lý, bảo mật dữ liệu người lao động và người sử dụng lao động;
  • Tư vấn chế độ báo cáo 06 tháng và hằng năm;
  • Hỗ trợ doanh nghiệp đã ký quỹ thực hiện việc rút tiền tại ngân hàng;
  • Rà soát tình trạng pháp lý của Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm đã được cấp trước ngày 01/7/2026;
  • Theo dõi văn bản mới thay thế hoặc sửa đổi cơ chế tạm thời trước thời điểm 01/3/2027.

Quý doanh nghiệp có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc vui lòng gửi hồ sơ qua email info@longphanpmt.com hoặc Zalo 0906.735.386.

Câu hỏi thường gặp về thủ tục hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp

Dưới đây là một số câu hỏi thường phát sinh khi doanh nghiệp chuyển từ cơ chế cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm sang cơ chế quản lý áp dụng từ ngày 01/7/2026.

1. Từ 01/7/2026, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm có còn phải xin giấy phép không?

Không thực hiện thủ tục xin cấp Giấy phép theo cơ chế trước đây trong thời gian Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực.
Theo Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, không thực hiện quy định tại khoản 5 Điều 28 Luật Việc làm 74/2025/QH15 liên quan đến mẫu giấy phép, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép. Đồng thời, thủ tục cấp Giấy phép theo Điều 13, Điều 14, Điều 15 và Điều 17 Nghị định 352/2025/NĐ-CP cũng không được thực hiện.
Cần lưu ý đây là cơ chế có thời hạn, hiện áp dụng đến hết ngày 28/02/2027, trừ trường hợp văn bản mới có hiệu lực sớm hơn và thay thế nội dung tương ứng.

2. Doanh nghiệp mới thành lập có cần chờ được cấp phép mới hoạt động không?

Không phải chờ thực hiện thủ tục cấp Giấy phép theo cơ chế cũ.
Doanh nghiệp phải hoàn tất việc thành lập, đăng ký doanh nghiệp theo pháp luật và thực hiện thông báo cho Sở Nội vụ nơi đặt trụ sở chính thông qua Sàn giao dịch việc làm quốc gia trong thời hạn 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu hoạt động, theo khoản D.IV.2 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP.
Sau khi bắt đầu hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ công khai, niêm yết, quản lý dữ liệu và báo cáo theo quy định hiện hành.

3. Doanh nghiệp đã ký quỹ 300 triệu đồng trước đây có được rút lại không?

Có. Theo khoản D.VI.2 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, kể từ ngày 01/7/2026, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm đang thực hiện ký quỹ được rút tiền ký quỹ tại ngân hàng nhận ký quỹ mà không phải có văn bản đồng ý của cơ quan có thẩm quyền nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Quy định này thay đổi đáng kể so với cơ chế rút tiền ký quỹ tại khoản 4, khoản 5 Điều 16 Nghị định 352/2025/NĐ-CP, các thủ tục này cũng nằm trong nhóm không tiếp tục thực hiện từ ngày 01/7/2026.

4. Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm đã được cấp trước 01/7/2026 có cần gia hạn nữa không?

Trong thời gian Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP có hiệu lực, thủ tục gia hạn Giấy phép theo Điều 19 Nghị định 352/2025/NĐ-CP không tiếp tục được thực hiện.
Tuy nhiên, Giấy phép đã được cấp trước ngày 01/7/2026 và còn thời hạn không bị mất giá trị ngay. Theo quy định chuyển tiếp của Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, văn bản, giấy tờ đã được cấp trước ngày Nghị quyết có hiệu lực mà chưa hết hiệu lực hoặc chưa hết thời hạn sử dụng tiếp tục được áp dụng cho đến khi hết thời hạn.
Vì vậy, cần phân biệt hai vấn đề: giấy phép cũ còn hạn vẫn được sử dụng, nhưng thủ tục gia hạn giấy phép không tiếp tục được thực hiện trong thời gian cơ chế mới đang áp dụng.

5. Doanh nghiệp có bắt buộc công khai thông tin hoạt động dịch vụ việc làm không?

Có. Theo khoản D.IV.1 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu hoạt động dịch vụ việc làm, doanh nghiệp phải công khai trên phương tiện thông tin đại chúng các thông tin về địa điểm, lĩnh vực hoạt động, người đại diện theo pháp luật thực hiện hoạt động dịch vụ việc làm, website nếu có, email và số điện thoại liên hệ.
Ngoài nghĩa vụ công khai này, doanh nghiệp còn phải niêm yết lịch làm việc, giá dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm và thông tin liên hệ tại địa điểm hoạt động.

6. Không thực hiện thông báo hoạt động đúng hạn thì doanh nghiệp có bị xử lý không?

Doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện thông báo đúng mốc 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu hoạt động theo khoản D.IV.2 Phần D Mục 1 Phụ lục I.4 Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP. Đây là nghĩa vụ pháp lý trực tiếp của doanh nghiệp trong cơ chế mới.
Nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thông báo, doanh nghiệp có thể phát sinh rủi ro pháp lý khi cơ quan nhà nước kiểm tra, hậu kiểm. Tuy nhiên, việc xác định hành vi vi phạm cụ thể, căn cứ xử phạt và mức tiền phạt phải đối chiếu văn bản xử phạt vi phạm hành chính còn hiệu lực tại thời điểm xảy ra hành vi; không nên mặc định áp dụng mức phạt của quy định cũ nếu chưa kiểm tra sự tương thích với cơ chế được thay đổi từ ngày 01/7/2026.

Kết luận

Thủ tục hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp từ 01/7/2026 đã chuyển sang một cơ chế quản lý khác so với giai đoạn đầu năm 2026. Theo Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, các thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn và thu hồi Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm theo cơ chế cũ không tiếp tục được thực hiện; thay vào đó, doanh nghiệp phải chú trọng nghĩa vụ thông báo hoạt động, công khai thông tin, niêm yết giá, quản lý dữ liệu và báo cáo định kỳ. Tư vấn Long Phan hỗ trợ doanh nghiệp rà soát quy trình hoạt động, nghĩa vụ thông báo và các yêu cầu pháp lý liên quan; quý khách cần tư vấn cụ thể có thể liên hệ hotline 1900.636.389 để được hỗ trợ.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Luật Việc làm 2025
  • Luật Đầu tư 2025
  • Nghị định 352/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về dịch vụ việc làm, tổ chức dịch vụ việc làm công, sàn giao dịch việc làm quốc gia, và việc cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm.
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Tư vấn Long Phan qua Hotline 1900.63.63.89 để được cập nhật thông tin tư vấn mới nhất.
Mục Lục Bài Viết
LIÊN HỆ TƯ VẤN
Gọi tư vấn ngay!
1900.63.63.89

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *