Thời hạn bảo hộ quyền tác giảlà một trong những nội dung ảnh hưởng trực tiếp đến quyền khai thác, sử dụng và chuyển giao giá trị kinh tế của tác phẩm. Việc xác định đúng thời điểm bắt đầu và chấm dứt bảo hộ không chỉ giúp chủ thể quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình mà còn hạn chế các rủi ro tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng tác phẩm. Bài viết dưới đây của Tư vấn Long Phan sẽ phân tích cụ thể các quy định pháp luật hiện hành về thời hạn bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam
Quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam
Dựa trên căn cứ Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2009), thời hạn bảo hộ quyền tác giả được thiết kế theo hướng phân định rõ giữa quyền nhân thân và quyền tài sản, tương ứng với từng loại hình tác phẩm. Theo đó, thời hạn bảo hộ được quy định cụ thể như sau:
Các quyền nhân thân quy định tại Khoản 1, 2 và 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được bảo hộ vô thời hạn, các quyền này bao gồm:
Đặt tên cho tác phẩm. Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005;
Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.
Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm quy định tại Khoản 3 Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 bao gồm làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính có thời hạn bảo hộ như sau:
Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là bảy mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng chưa được công bố trong thời hạn hai mươi lăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là một trăm năm, kể từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Tác phẩm không thuộc loại hình quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.
Thời hạn bảo hộ quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31/12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.
Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi thừa kế tài sản trí tuệ cho thế hệ sau của tác giả, đồng thời tạo điều kiện để tác phẩm thuộc về công chúng sau một khoảng thời gian hợp lý.
Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bởi Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2022, các hành vi sau đây được xem là hành vi xâm phạm quyền của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả:
Xâm phạm quyền nhân thân quy định tại Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Xâm phạm quyền tài sản quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ quy định tại các Điều 25, 25a và 26 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 về sử dụng tác phẩm thuộc trường hợp ngoại lệ, giới hạn quyền tác giả nhưng không ghi rõ tên tác giả, nguồn gốc xuất xứ; sử dụng vượt quá phạm vi cho phép, gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; sao chép, khai thác tác phẩm không đúng điều kiện luật định; không trả tiền bản quyền trong trường hợp pháp luật quy định phải trả; hoặc lợi dụng quy định ngoại lệ dành cho người khuyết tật để sử dụng tác phẩm sai mục đích, sai đối tượng.
Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình nhằm thực hiện hành vi quy định tại Điều 28 và Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại các thiết bị, sản phẩm hoặc linh kiện, giới thiệu hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó được sản xuất, sử dụng nhằm vô hiệu hóa biện pháp công nghệ hữu hiệu bảo vệ quyền tác giả.
Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung cấp đến công chúng bản sao tác phẩm khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật.
Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian quy định tại khoản 3 Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Các hành vi xâm phạm quyền tác giả
Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả
Theo quy định tại Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2022), các trường hợp sau đây được xem là không xâm phạm quyền tác giả:
Tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại. Quy định này không áp dụng trong trường hợp sao chép bằng thiết bị sao chép.
Sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép để nghiên cứu khoa học, học tập của cá nhân và không nhằm mục đích thương mại.
Sử dụng hợp lý tác phẩm để minh họa trong bài giảng, ấn phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng nhằm mục đích giảng dạy. Việc sử dụng này có thể bao gồm việc cung cấp trong mạng máy tính nội bộ với điều kiện phải có các biện pháp kỹ thuật để bảo đảm chỉ người học và người dạy trong buổi học đó có thể tiếp cận tác phẩm này.
Sử dụng tác phẩm trong hoạt động công vụ của cơ quan nhà nước.
Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận, giới thiệu hoặc minh họa trong tác phẩm của mình; để viết báo, sử dụng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát sóng, phim tài liệu.
Sử dụng tác phẩm trong hoạt động thư viện không nhằm mục đích thương mại, bao gồm sao chép tác phẩm lưu trữ trong thư viện để bảo quản, với điều kiện bản sao này phải được đánh dấu là bản sao lưu trữ và giới hạn đối tượng tiếp cận theo quy định của pháp luật về thư viện, lưu trữ; sao chép hợp lý một phần tác phẩm bằng thiết bị sao chép cho người khác phục vụ nghiên cứu, học tập; sao chép hoặc truyền tác phẩm được lưu giữ để sử dụng liên thông thư viện thông qua mạng máy tính, với điều kiện số lượng người đọc tại cùng một thời điểm không vượt quá số lượng bản sao của tác phẩm do các thư viện nói trên nắm giữ, trừ trường hợp được chủ sở hữu quyền cho phép và không áp dụng trong trường hợp tác phẩm đã được cung cấp trên thị trường dưới dạng kỹ thuật số.
Biểu diễn tác phẩm sân khấu, âm nhạc, múa và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, hoạt động tuyên truyền cổ động không nhằm mục đích thương mại.
Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm mỹ thuật, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó, không nhằm mục đích thương mại.
Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng cá nhân, không nhằm mục đích thương mại.
Sao chép bằng cách đăng tải lại trên báo, ấn phẩm định kỳ, phát sóng hoặc các hình thức truyền thông khác tới công chúng bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác được trình bày trước công chúng trong phạm vi phù hợp với mục đích thông tin thời sự, trừ trường hợp tác giả tuyên bố giữ bản quyền.
Chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phát sóng sự kiện nhằm mục đích đưa tin thời sự, trong đó có sử dụng tác phẩm được nghe thấy, nhìn thấy trong sự kiện đó.
Người khuyết tật nhìn, người khuyết tật không có khả năng đọc chữ in và người khuyết tật khác không có khả năng tiếp cận tác phẩm để đọc theo cách thông thường (sau đây gọi là người khuyết tật), người nuôi dưỡng, chăm sóc cho người khuyết tật, tổ chức đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ sử dụng tác phẩm theo quy định.
Trên đây là các trường hợp được sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm. Việc sử dụng tác phẩm không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Dịch vụ tư vấn về bảo hộ quyền tác giả tại Tư vấn Long Phan
Tư vấn Long Phan cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên sâu về sở hữu trí tuệ, hỗ trợ Quý khách hàng bảo vệ tối đa quyền lợi đối với tài sản sáng tạo của mình. Với đội ngũ chuyên gia am hiểu tường tận Luật Sở hữu trí tuệ và thực tiễn áp dụng, chúng tôi cam kết mang lại dịch vụ hiệu quả và chính xác. Các nội dung hỗ trợ chính bao gồm:
Tư vấn xác lập quyền và đăng ký bảo hộ
Phân tích, rà soát loại hình tác phẩm để xác định đối tượng và thời hạn bảo hộ phù hợp theo quy định pháp luật.
Chuẩn bị đầy đủ tờ khai, tài liệu chứng minh quyền chủ sở hữu, cam kết của tác giả để nộp hồ sơ tại Cục Bản quyền tác giả.
Thay mặt Quý khách hàng làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ khâu nộp đơn, theo dõi quá trình thẩm định đến khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả.
Tư vấn xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả
Phân tích hành vi sử dụng trái phép, đối chiếu với các quy định để xác định mức độ vi phạm.
Soạn thảo thư khuyến cáo, đại diện đàm phán, thương lượng hoặc tham gia tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Quý khách hàng.
Tư vấn trình tự, thủ tục yêu cầu cơ quan chức năng xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật hành chính và hình sự.
Tư vấn khai thác thương mại và chuyển nhượng quyền
Tư vấn, soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, đảm bảo các điều khoản về phạm vi, thời hạn và giá trị chuyển nhượng chặt chẽ.
Hỗ trợ pháp lý trong việc cấp quyền sử dụng tác phẩm, xác định rõ phạm vi độc quyền hoặc không độc quyền.
Hỗ trợ các vấn đề liên quan đến việc định giá quyền tác giả để góp vốn kinh doanh hoặc thế chấp tài sản.
Dịch vụ tư vấn về bảo hộ quyền tác giả tại Tư vấn Long Phan
Các câu hỏi thường gặp
Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp về bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam, mời quý vị tham khảo:
Thời điểm bắt đầu thời hạn bảo hộ quyền tác giả được tính từ khi nào?
Quyền tác giả phát sinh tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định (định hình), không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký. Do đó, thời hạn bảo hộ thực tế bắt đầu ngay từ khi tác phẩm được định hình, tuy nhiên cách tính thời điểm chấm dứt sẽ phụ thuộc vào mốc công bố hoặc ngày mất của tác giả tùy loại hình tác phẩm.
(Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 6 và Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.)
Điều gì xảy ra với tác phẩm sau khi hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả?
Khi hết thời hạn bảo hộ quyền tài sản và quyền công bố, tác phẩm sẽ thuộc về công chúng (public domain). Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng tác phẩm đó mà không cần xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao. Tuy nhiên, người sử dụng vẫn phải tôn trọng các quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn như: tôn trọng tên thật/bút danh tác giả và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.
(Căn cứ pháp lý: Điều 43 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022.)
Nếu tác phẩm điện ảnh đã quay xong (định hình) nhưng 30 năm sau mới công bố thì tính thời hạn thế nào?
Theo quy định, nếu tác phẩm điện ảnh chưa được công bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi định hình, thì thời hạn bảo hộ là 100 năm tính từ khi định hình. Trong trường hợp này (công bố sau 30 năm), tác phẩm sẽ được bảo hộ 100 năm kể từ ngày quay xong (định hình), chứ không áp dụng mốc 75 năm kể từ ngày công bố.
(Căn cứ pháp lý: Điểm a Khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2022.)
Chủ sở hữu quyền tác giả là doanh nghiệp thì thời hạn bảo hộ có thay đổi không?
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả được xác định dựa trên loại hình tác phẩm và/hoặc tuổi thọ của tác giả (cá nhân sáng tạo), không phụ thuộc vào việc chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân hay pháp nhân. Việc doanh nghiệp mua lại quyền tác giả không làm thay đổi thời hạn bảo hộ gốc của tác phẩm đó.
(Căn cứ pháp lý: Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.)
Việc gia hạn thời hạn bảo hộ quyền tác giả có được phép không?
Không. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả được ấn định và không có cơ chế gia hạn. Khi hết thời hạn luật định, các quyền tài sản đối với tác phẩm đương nhiên chấm dứt hiệu lực bảo hộ độc quyền.
(Căn cứ pháp lý: Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.)
Nếu dịch một cuốn sách nước ngoài sang tiếng Việt để bán thì thời hạn bảo hộ của bản dịch là bao lâu?
Bản dịch là tác phẩm phái sinh. Nếu được phép của tác giả gốc để thực hiện, bản dịch sẽ được bảo hộ quyền tác giả như một tác phẩm độc lập. Thời hạn bảo hộ của bản dịch (tác phẩm văn học) là suốt đời người dịch và 50 năm sau khi người dịch mất. Tuy nhiên, việc khai thác bản dịch vẫn phụ thuộc vào thời hạn bảo hộ của tác phẩm gốc.
(Căn cứ pháp lý: Điều 14 và Điểm b Khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.)
Việc nắm vững quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ là yêu cầu bắt buộc để doanh nghiệp và cá nhân bảo vệ tài sản vô hình. Tư vấn Long Phan cam kết cung cấp giải pháp pháp lý toàn diện, đảm bảo tối ưu hóa quyền lợi của chủ sở hữu tác phẩm. Để nhận được tư vấn chi tiết về hồ sơ và thủ tục liên quan, Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp qua Hotline 1900636389.
Luật sư Nguyễn Thu Hương
Luật sư Nguyễn Thu Hương là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực đầu tư và giấy phép cho người nước ngoài. Với kiến thức sâu rộng về pháp luật đầu tư và các quy định phức tạp liên quan đến thủ tục cấp phép, bà đã hỗ trợ thành công nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài thiết lập hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.