
Đăng ký tư vấn
Tư vấn Long Phan cập nhật: Nghị định 303/2026/NĐ-CP bổ sung 4 loại hình cụm công nghiệp mới — chuyên ngành, hỗ trợ, công nghệ cao và sinh thái — bên cạnh cụm công nghiệp làng nghề đã có. Từ 15/9/2026, mỗi loại hình gắn với tỷ lệ diện tích tối thiểu, điều kiện công nhận và mức ưu đãi ngân sách riêng. Doanh nghiệp cần xác định đúng loại hình ngay từ khi lập hồ sơ thành lập, mở rộng cụm công nghiệp để không bỏ lỡ chính sách hỗ trợ và tránh tranh chấp về sau. Bài viết phân tích căn cứ pháp lý theo luật đầu tư, điều kiện công nhận và rủi ro thường gặp.

Lưu ý quan trọng:
Theo khoản 1 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP, Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 2 Nghị định 32/2024/NĐ-CP, bổ sung các khoản 2a, 2b, 2c và 2d để định nghĩa cụ thể 4 loại hình cụm công nghiệp mới. Trước thời điểm này, Nghị định 32/2024/NĐ-CP chỉ quy định hai khái niệm là cụm công nghiệp thông thường và cụm công nghiệp làng nghề, chưa tách bạch theo định hướng ngành nghề hay mục tiêu phát triển bền vững.
Điểm chung của cả 4 loại hình là đều được định nghĩa bằng một tiêu chí định lượng: tỷ lệ diện tích đất công nghiệp tối thiểu phải dành cho đúng mục tiêu của loại hình đó. Đây là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát việc “gắn mác” loại hình chỉ để hưởng ưu đãi mà không đáp ứng thực chất.
Cụm công nghiệp chuyên ngành là cụm công nghiệp có tối thiểu 60% diện tích đất công nghiệp dành cho các dự án đầu tư thuộc cùng một ngành, nghề, theo khoản 2a Điều 2 Nghị định 32/2024/NĐ-CP, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP. Loại hình này phù hợp với các địa phương có thế mạnh về một nhóm ngành cụ thể, ví dụ vùng nguyên liệu nông sản ưu tiên cụm chuyên ngành chế biến.
Khi lập hồ sơ thành lập hoặc mở rộng theo hướng chuyên ngành, chủ đầu tư hạ tầng cần cam kết tỷ lệ diện tích cho thuê đúng ngành nghề đã đăng ký ngay từ quy hoạch chi tiết, vì đây là cơ sở để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm định và công nhận loại hình trong quyết định thành lập.
Cụm công nghiệp hỗ trợ là cụm công nghiệp có tối thiểu 60% diện tích đất công nghiệp dành cho các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ theo quy định của pháp luật về phát triển công nghiệp hỗ trợ, căn cứ khoản 2b Điều 2 Nghị định 32/2024/NĐ-CP, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP.
Loại hình này hướng đến mục tiêu đưa doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các ngành công nghiệp chính, thay vì chỉ dừng ở cho thuê đất công nghiệp đơn thuần. Nhà đầu tư thứ cấp sản xuất linh kiện, phụ tùng, nguyên vật liệu cho ngành công nghiệp hạ nguồn là đối tượng phù hợp nhất với cụm công nghiệp hỗ trợ.
Cụm công nghiệp công nghệ cao là cụm công nghiệp có tối thiểu 30% diện tích đất công nghiệp bố trí cho các dự án nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao, căn cứ khoản 2c Điều 2 Nghị định 32/2024/NĐ-CP, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP.
Tỷ lệ tối thiểu của loại hình này thấp hơn hai loại hình trên (30% so với 60%) do tính chất dự án công nghệ cao thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn trên diện tích nhỏ hơn nhưng giá trị gia tăng cao. Đây cũng là loại hình gắn trực tiếp với chính sách ưu tiên bố trí quỹ đất cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được phân tích ở phần sau.
Cụm công nghiệp sinh thái là mô hình hướng đến phát triển kinh tế bền vững và kinh tế tuần hoàn, trong đó các tổ chức, cá nhân trong cụm công nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn, sử dụng hiệu quả tài nguyên và có sự liên kết, hợp tác để tối ưu hóa hoặc tái sử dụng nguyên liệu, nước, năng lượng, chất thải, phế liệu trong quá trình sản xuất, kinh doanh, căn cứ khoản 2d Điều 2 Nghị định 32/2024/NĐ-CP, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP.
Khác với ba loại hình trên, cụm công nghiệp sinh thái không gắn với một tỷ lệ diện tích cố định mà được xác định bằng tiêu chí vận hành: mức độ liên kết cộng sinh công nghiệp giữa các doanh nghiệp trong cụm. Đây là điểm doanh nghiệp cần lưu ý khi chuẩn bị hồ sơ, vì tiêu chí định tính đòi hỏi thuyết minh kỹ hơn tiêu chí định lượng.
>>>Xem thêm: Điều kiện đề xuất đầu tư mới khu công nghiệp sinh thái mới nhất
Xác định đúng loại hình cụm công nghiệp không chỉ là vấn đề kỹ thuật hồ sơ mà quyết định trực tiếp quyền được xem xét ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư hạ tầng và thứ tự ưu tiên bố trí quỹ đất. Nghị định 303/2026/NĐ-CP đã gắn cụ thể các quyền lợi này với từng loại hình tại Điều 26 và Điều 3 Nghị định 32/2024/NĐ-CP sau khi sửa đổi.
Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền quyết định loại hình cụm công nghiệp phù hợp với quy hoạch tỉnh và điều kiện thực tế địa phương, thể hiện ngay trong quyết định thành lập hoặc mở rộng. Nhà đầu tư cần chủ động đề xuất loại hình phù hợp trước khi UBND cấp tỉnh ra quyết định, thay vì để cơ quan quản lý áp loại hình mặc định.
Theo điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 26 Nghị định 32/2024/NĐ-CP, sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP, các địa phương được sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp trên địa bàn theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công và quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Đối tượng được ưu tiên hỗ trợ gồm ba nhóm: cụm công nghiệp dành một phần diện tích đất đã đầu tư hạ tầng cho doanh nghiệp công nghệ cao thuộc khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê, thuê lại; cụm công nghiệp tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; và cụm công nghiệp phát triển theo các loại hình được ưu tiên tại Điều 3 Nghị định 32/2024/NĐ-CP sau khi sửa đổi. Cụm công nghiệp công nghệ cao và cụm công nghiệp hỗ trợ vì vậy có lợi thế tiếp cận ngân sách hỗ trợ rõ ràng hơn so với cụm công nghiệp thông thường.
Nghị định 303/2026/NĐ-CP sửa đổi Điều 3 Nghị định 32/2024/NĐ-CP theo hướng tách riêng từng khoản về ngành, nghề được khuyến khích đầu tư; tổ chức, cá nhân được khuyến khích đầu tư; và các loại hình cụm công nghiệp được ưu tiên phát triển, gồm cụm công nghiệp làng nghề, chuyên ngành, hỗ trợ, công nghệ cao, sinh thái và các mô hình cụm công nghiệp thông minh, hiệu quả, bền vững khác.
Điểm mới đáng chú ý là việc bổ sung “doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo” vào nhóm đối tượng được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp, để phù hợp với các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân. Nhóm doanh nghiệp này được ưu tiên bố trí quỹ đất tại các cụm công nghiệp công nghệ cao và cụm công nghiệp có phần diện tích dành cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê, thuê lại theo Điều 26 Nghị định 32/2024/NĐ-CP đã sửa đổi.
>>>Xem thêm: Các lĩnh vực được khuyến khích đầu tư trong khu công nghệ cao

Việc công nhận loại hình cụm công nghiệp gắn liền với hai khâu: thẩm quyền quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi phê duyệt thành lập hoặc mở rộng, và tiêu chí đánh giá năng lực chủ đầu tư hạ tầng kỹ thuật theo cơ chế chấm điểm mới tại Điều 13 Nghị định 32/2024/NĐ-CP đã sửa đổi.
Theo Điều 3 Nghị định 32/2024/NĐ-CP sau khi được sửa đổi bởi Nghị định 303/2026/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định loại hình cụm công nghiệp phù hợp với quy hoạch tỉnh và điều kiện thực tế của địa phương, thể hiện trực tiếp trong quyết định thành lập hoặc mở rộng cụm công nghiệp. Đây là cơ chế phân quyền cho địa phương chủ động lựa chọn định hướng phát triển phù hợp thế mạnh vùng, thay vì áp dụng một khung tiêu chí chung cho cả nước.
Trên thực tế, doanh nghiệp muốn cụm công nghiệp của mình được công nhận đúng loại hình chuyên ngành, hỗ trợ, công nghệ cao hay sinh thái cần chủ động thể hiện tỷ lệ diện tích và định hướng ngành nghề tương ứng ngay trong hồ sơ đề nghị thành lập hoặc mở rộng, làm căn cứ để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ghi nhận loại hình tại quyết định thành lập.
Theo khoản 7 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP, sửa đổi khoản 2 và bổ sung khoản 3 Điều 13 Nghị định 32/2024/NĐ-CP, việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp là một nội dung thẩm định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Hội đồng đánh giá lựa chọn chủ đầu tư, gồm Chủ tịch Hội đồng là lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phó Chủ tịch Hội đồng là lãnh đạo Sở Công Thương và Sở Tài chính cùng các thành viên là đại diện sở, cơ quan liên quan.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức chỉ được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định giao làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp khi đạt tối thiểu 50/100 điểm theo thang điểm đánh giá của Hội đồng. Kết quả này được ghi nhận tại quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp cùng với loại hình đã được xác định.
Theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 32/2024/NĐ-CP, sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP, việc mở rộng cụm công nghiệp phải đáp ứng đồng thời bốn điều kiện. Tổng diện tích sau khi mở rộng không vượt quá 75 ha và phải phù hợp với quy hoạch, chỉ tiêu sử dụng đất cấp tỉnh. Cụm công nghiệp phải có chủ đầu tư đủ tư cách pháp lý và năng lực xây dựng hạ tầng kỹ thuật.
Theo điểm c khoản 2 Điều 8 nêu trên, cụm công nghiệp phải đạt tỷ lệ lấp đầy tối thiểu 50% hoặc nhu cầu thuê đất công nghiệp vượt quá diện tích đất công nghiệp hiện có mới đủ điều kiện mở rộng. Theo điểm d cùng khoản, cụm công nghiệp còn phải hoàn thành xây dựng, đưa vào sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung thiết yếu — đường giao thông nội bộ, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải — theo quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt. Cụm công nghiệp mở rộng theo đúng loại hình ban đầu (ví dụ chuyên ngành, công nghệ cao) cần duy trì tỷ lệ diện tích tối thiểu tương ứng cho cả phần diện tích mở rộng.

Việc kê khai hoặc vận hành không đúng tỷ lệ diện tích của loại hình đã đăng ký kéo theo hai nhóm rủi ro chính: mất quyền tiếp cận ưu đãi ngân sách, quỹ đất đã phân tích ở trên, và phát sinh tranh chấp hợp đồng thuê đất với nhà đầu tư thứ cấp. Doanh nghiệp cần rà soát định kỳ tỷ lệ diện tích thực tế so với tỷ lệ đã cam kết trong quyết định thành lập, mở rộng để chủ động xử lý trước khi bị cơ quan quản lý phát hiện.
Nếu cụm công nghiệp không duy trì đúng tỷ lệ diện tích tối thiểu theo loại hình đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận tại quyết định thành lập, chủ đầu tư hạ tầng đối mặt nguy cơ bị loại khỏi danh sách được ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư hạ tầng theo Điều 26 Nghị định 32/2024/NĐ-CP đã sửa đổi. Khi Sở Công Thương tổng hợp và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình hình thực tế không phù hợp với nội dung đã phê duyệt, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định điều chỉnh nội dung quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp cho phù hợp yêu cầu quản lý của địa phương.
Khi chủ đầu tư hạ tầng cho thuê đất không đúng định hướng ngành nghề đã cam kết theo loại hình cụm công nghiệp (ví dụ cho doanh nghiệp ngoài ngành thuê tại cụm công nghiệp chuyên ngành), nhà đầu tư thứ cấp có căn cứ để yêu cầu xem xét lại điều kiện hợp đồng thuê đất gắn với hạ tầng kỹ thuật chung theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 32/2024/NĐ-CP đã sửa đổi. Việc soạn thảo hợp đồng thuê đất và biên bản cam kết ngành nghề rõ ràng ngay từ đầu là biện pháp phòng ngừa tranh chấp hiệu quả nhất cho cả hai bên.
Tư vấn Long Phan hỗ trợ doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình xác định và pháp lý hóa loại hình cụm công nghiệp, gồm:
Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua email info@longphanpmt.com hoặc Zalo 0906.735.386 để được đánh giá sơ bộ.
Dưới đây là các câu hỏi doanh nghiệp thường đặt ra khi tìm hiểu về 4 loại hình cụm công nghiệp mới theo Nghị định 303/2026/NĐ-CP, kèm căn cứ pháp lý cụ thể cho từng nội dung.
Bốn loại hình gồm cụm công nghiệp chuyên ngành, cụm công nghiệp hỗ trợ, cụm công nghiệp công nghệ cao và cụm công nghiệp sinh thái, được bổ sung tại các Khoản 2a, 2b, 2c, 2d Điều 2 Nghị định 32/2024/NĐ-CP theo Khoản 1 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP, áp dụng từ ngày 15/9/2026.
Cả hai đều yêu cầu tối thiểu 60% diện tích đất công nghiệp, nhưng cụm công nghiệp chuyên ngành dành cho dự án cùng một ngành, nghề, còn cụm công nghiệp hỗ trợ dành cho dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ theo pháp luật về phát triển công nghiệp hỗ trợ, căn cứ Khoản 2a và Khoản 2b Điều 2 Nghị định 32/2024/NĐ-CP đã sửa đổi.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan quyết định loại hình cụm công nghiệp phù hợp với quy hoạch tỉnh và điều kiện thực tế địa phương, thể hiện trong quyết định thành lập hoặc mở rộng cụm công nghiệp, theo Điều 3 Nghị định 32/2024/NĐ-CP sau khi sửa đổi bởi Nghị định 303/2026/NĐ-CP.
Theo điểm b khoản 1 Điều 26 Nghị định 32/2024/NĐ-CP, sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP, ba nhóm được ưu tiên gồm: cụm công nghiệp dành diện tích cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê; cụm công nghiệp tại địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn; và cụm công nghiệp phát triển theo loại hình được ưu tiên tại Điều 3.
Theo khoản 7 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP, sửa đổi Điều 13 Nghị định 32/2024/NĐ-CP, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức phải đạt tối thiểu 50/100 điểm theo đánh giá của Hội đồng đánh giá lựa chọn chủ đầu tư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập mới được giao làm chủ đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp.
Theo khoản 2 Điều 8 Nghị định 32/2024/NĐ-CP, sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Nghị định 303/2026/NĐ-CP, cụm công nghiệp phải đáp ứng đồng thời: diện tích sau mở rộng không quá 75 ha, có chủ đầu tư đủ điều kiện, tỷ lệ lấp đầy tối thiểu 50% và đã hoàn thành hạ tầng kỹ thuật dùng chung thiết yếu.
Nghị định 303/2026/NĐ-CP đã chính thức luật hóa 4 loại hình cụm công nghiệp mới — chuyên ngành, hỗ trợ, công nghệ cao và sinh thái — với tỷ lệ diện tích và điều kiện công nhận riêng biệt, áp dụng từ ngày 15/9/2026. Doanh nghiệp cần chủ động xác định loại hình phù hợp ngay từ khâu lập hồ sơ thành lập hoặc mở rộng cụm công nghiệp để bảo đảm quyền tiếp cận ngân sách hỗ trợ hạ tầng, ưu tiên quỹ đất và hạn chế rủi ro tranh chấp với nhà đầu tư thứ cấp. Tư vấn Long Phan sẵn sàng hỗ trợ rà soát hồ sơ và làm việc với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong toàn bộ quá trình này — Quý khách liên hệ hotline 1900636389 để được tư vấn cụ thể.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:









Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của công ty Tư vấn Long Phan chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng các chính sách pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến tư vấn cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Long Phan sẽ là nơi cung cấp giải pháp đáng tin cậy của Quý khách hàng.
Để lại email để nhận thông tin mới nhất từ chúng tôi