
Đăng ký tư vấn
Tư vấn Long Phan hướng dẫn chi tiết thủ tục xin giấy chứng nhận xử lý dữ liệu cá nhân theo Nghị định 356/2025/NĐ-CP – văn bản đang về bảo vệ dữ liệu cá nhân, có hiệu lực từ 1/1/2026. Không phải mọi doanh nghiệp thu thập dữ liệu khách hàng đều phải xin loại giấy chứng nhận này – chỉ 09 nhóm dịch vụ tại Điều 21 mới thuộc diện bắt buộc. Bài viết phân tích điều kiện, hồ sơ, trình tự và các lỗi khiến hồ sơ bị trả lại trên thực tế.

Lưu ý quan trọng:
Điều 21 Nghị định 356/2025/NĐ-CP liệt kê đúng 09 nhóm dịch vụ phải xin giấy chứng nhận xử lý dữ liệu cá nhân trước khi kinh doanh; ngoài 09 nhóm này, tổ chức không bắt buộc xin loại giấy chứng nhận này dù có xử lý dữ liệu cá nhân trong hoạt động thường xuyên.
Doanh nghiệp cần đối chiếu chính xác mô hình kinh doanh của mình với 09 nhóm trên; một doanh nghiệp chỉ sử dụng CRM nội bộ để lưu thông tin khách hàng, không bán dịch vụ xử lý dữ liệu cho bên thứ ba, thường không thuộc diện phải xin giấy chứng nhận này.
Khoản 1, khoản 2 Điều 41 Nghị định 356/2025/NĐ-CP cho phép doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện một số nghĩa vụ trong 05 năm kể từ ngày Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân có hiệu lực, và miễn hoàn toàn cho hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ. Tuy nhiên, cả hai khoản đều loại trừ rõ ràng trường hợp doanh nghiệp kinh doanh chính dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân, trực tiếp theo danh mục xử lý dữ liệu nhạy cảm, hoặc xử lý dữ liệu từ 100.000 chủ thể trở lên tính theo dữ liệu tích lũy. Nói cách khác, một startup dù mới thành lập nhưng bán dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân vẫn phải xin giấy chứng nhận như doanh nghiệp lớn.
Điều 22 Nghị định 356/2025/NĐ-CP quy định 04 nhóm điều kiện bắt buộc: tư cách pháp nhân, nhân sự, hạ tầng công nghệ và hồ sơ đánh giá tác động. Tổ chức phải đáp ứng đồng thời cả 04 nhóm mới đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận.
Tổ chức đề nghị cấp phép phải là tổ chức, doanh nghiệp được thành lập và hoạt động hợp pháp theo pháp luật Việt Nam. Cá nhân, hộ kinh doanh không đủ tư cách để trực tiếp đứng tên xin giấy chứng nhận này.
Người đứng đầu phụ trách chuyên môn xử lý dữ liệu cá nhân phải là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam. Tổ chức phải có đội ngũ quản lý, điều hành đáp ứng yêu cầu chuyên môn, và tối thiểu 03 nhân sự đạt điều kiện năng lực theo khoản 2 Điều 13: trình độ cao đẳng trở lên, ít nhất 02 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp chế, công nghệ thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, quản trị rủi ro hoặc kiểm soát tuân thủ, và đã qua đào tạo về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là điều kiện nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó đáp ứng ngay khi mới triển khai dịch vụ.
Tổ chức phải có hạ tầng, trang thiết bị, cơ sở vật chất và công nghệ phù hợp với dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân dự kiến cung cấp. Nghị định không ấn định thông số kỹ thuật cụ thể, nên mức độ đầu tư hạ tầng cần tương xứng với quy mô và loại dữ liệu xử lý.
Tổ chức phải có kết quả đạt yêu cầu đối với hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân theo Điều 19; nếu có hoạt động chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài, phải bổ sung hồ sơ đánh giá tác động chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới theo Điều 18. Đây là điều kiện tiên quyết – nếu hồ sơ đánh giá tác động chưa được cơ quan chuyên trách xác nhận đạt yêu cầu, hồ sơ xin giấy chứng nhận sẽ không đủ điều kiện xét duyệt.
>>>Xem thêm: Các trường hợp doanh nghiệp không phải đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân

Điều 24 Nghị định 356/2025/NĐ-CP xác định Bộ Công an là cơ quan có thẩm quyền cấp, cấp lại, cấp đổi và thu hồi giấy chứng nhận xử lý dữ liệu cá nhân; việc tiếp nhận, thẩm định hồ sơ trên thực tế do cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân thực hiện theo phân công của Bộ trưởng Bộ Công an.
Khoản 1 Điều 24 quy định Bộ Công an cấp, cấp lại, cấp đổi, thu hồi giấy chứng nhận. Khoản 2 Điều 24 giao Bộ trưởng Bộ Công an phân công cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân – đơn vị trực thuộc Bộ Công an theo Điều 39 – trực tiếp thực hiện các thủ tục này.
Tổ chức nộp 01 bộ hồ sơ theo một trong ba phương thức: trực tuyến, trực tiếp, hoặc qua dịch vụ bưu chính, gửi về cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân. Không có phương thức nào bị ưu tiên hơn về mặt pháp lý; lựa chọn phương thức phù hợp giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc theo dõi tiến độ xử lý.
Khoản 1 Điều 25 Nghị định 356/2025/NĐ-CP quy định 05 loại tài liệu bắt buộc trong hồ sơ; thiếu bất kỳ tài liệu nào cũng khiến hồ sơ bị coi là chưa đầy đủ.
| STT | Tài liệu | Căn cứ |
| 1 | Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận theo Mẫu số 04 tại Phụ lục Nghị định 356/2025/NĐ-CP | Điểm a khoản 1 Điều 25 |
| 2 | Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp | Điểm b khoản 1 Điều 25 |
| 3 | Văn bản chỉ định bộ phận bảo vệ dữ liệu cá nhân, hoặc hợp đồng sử dụng dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân | Điểm c khoản 1 Điều 25 |
| 4 | Đề án đề nghị cấp giấy chứng nhận | Điểm d khoản 1 Điều 25 |
| 5 | Bằng cấp và giấy tờ chứng minh năng lực của nhân sự chuyên trách | Điểm đ khoản 1 Điều 25, điểm c khoản 2 Điều 22 |
Điểm e khoản 1 Điều 25 cho phép tổ chức không phải nộp bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu cơ quan nhà nước khai thác được thông tin này trên cơ sở dữ liệu quốc gia.
Đề án đề nghị cấp giấy chứng nhận phải nêu rõ: sự cần thiết và mục tiêu; nội dung, lĩnh vực đề nghị phê duyệt; ngành nghề, phương án kinh doanh; quy mô hoạt động xử lý dữ liệu dự kiến; khung quản trị rủi ro; kế hoạch đánh giá tuân thủ định kỳ; việc áp dụng tiêu chuẩn an ninh dữ liệu; phương án sử dụng dịch vụ định danh, xác thực điện tử; trách nhiệm, quyền hạn của tổ chức; và thông tin nhân sự đủ điều kiện. Đề án sơ sài, thiếu một trong các nội dung này là nguyên nhân phổ biến khiến hồ sơ bị yêu cầu bổ sung.

Khoản 3, khoản 4 Điều 25 Nghị định 356/2025/NĐ-CP quy định quy trình 03 bước với tổng thời hạn xử lý tối đa khoảng 40 ngày kể từ khi nộp hồ sơ lần đầu, nếu hồ sơ đạt yêu cầu ngay từ đầu.
| Bước | Nội dung | Thời hạn | Căn cứ |
| 1 | Nộp 01 bộ hồ sơ trực tuyến, trực tiếp hoặc qua bưu chính | – | Khoản 3 Điều 25 |
| 2 | Cơ quan chuyên trách đánh giá hồ sơ đạt/không đạt yêu cầu về tính đầy đủ; nếu chưa đầy đủ, thông báo bằng văn bản yêu cầu bổ sung | 10 ngày kiểm tra; 15 ngày để bổ sung nếu có yêu cầu | Khoản 3 Điều 25 |
| 3 | Thẩm định nội dung và quyết định cấp giấy chứng nhận theo Mẫu số 05, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ | Tối đa 30 ngày | Khoản 4 Điều 25 |
Giấy chứng nhận được cấp dưới dạng bản giấy hoặc bản điện tử; bản giấy được cấp khi tổ chức nộp hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính, hoặc theo yêu cầu khi nộp trực tuyến qua cổng dịch vụ công. Trường hợp không cấp, cơ quan chuyên trách phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 26 Nghị định 356/2025/NĐ-CP phân biệt hai trường hợp: cấp lại khi giấy chứng nhận bị mất, hỏng, và cấp đổi khi thông tin trên giấy chứng nhận sai lệch hoặc có thay đổi nội dung.
Tổ chức gửi đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục Nghị định bằng một trong ba phương thức nộp hồ sơ nêu trên. Cơ quan chuyên trách xem xét, cấp lại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn; nếu không cấp, phải có văn bản nêu rõ lý do.
Hồ sơ cấp đổi gồm đơn đề nghị theo mẫu quy định và giấy tờ chứng minh nội dung sai lệch hoặc thay đổi. Thời hạn xử lý cũng là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
Khoản 1 Điều 27 Nghị định 356/2025/NĐ-CP quy định 05 trường hợp bị thu hồi giấy chứng nhận; tổ chức cần chủ động rà soát để tránh vi phạm dẫn đến gián đoạn hoạt động kinh doanh.
Cơ quan chuyên trách ra quyết định thu hồi theo Mẫu số 07 và thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Tổ chức bị thu hồi phải nộp lại giấy chứng nhận đã cấp cho cơ quan chuyên trách trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận quyết định thu hồi. Chậm nộp lại không làm mất hiệu lực của quyết định thu hồi nhưng có thể bị xem xét xử lý theo quy định khác của pháp luật.
>>>Xem thêm: Thủ tục thông báo vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân
Được cấp giấy chứng nhận không phải là điểm kết thúc nghĩa vụ tuân thủ – Điều 23 Nghị định 356/2025/NĐ-CP đặt ra một loạt trách nhiệm duy trì trong suốt quá trình kinh doanh dịch vụ.
Tổ chức phải tuân thủ đầy đủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân với vai trò bên kiểm soát và xử lý hoặc bên xử lý dữ liệu cá nhân; xây dựng khung quản trị rủi ro phù hợp với dịch vụ cung cấp; thực hiện đánh giá hiện trạng tuân thủ và mức độ tín nhiệm về bảo vệ dữ liệu cá nhân định kỳ 01 năm/lần; và áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến an ninh dữ liệu, an ninh mạng.
Khi đóng vai trò bên xử lý dữ liệu cá nhân cho khách hàng, tổ chức phải yêu cầu bên kiểm soát dữ liệu cá nhân xin sự đồng ý của chủ thể dữ liệu trước khi cung cấp dịch vụ, đồng thời bảo đảm chủ thể dữ liệu được biết loại dữ liệu cá nhân được xử lý, mục đích xử lý và danh tính tổ chức cung cấp dịch vụ.
Đối chiếu Điều 22 và Điều 25 Nghị định 356/2025/NĐ-CP với thực tiễn xử lý hồ sơ, ba nhóm nguyên nhân sau đây khiến hồ sơ xin giấy chứng nhận thường bị trả lại hoặc kéo dài thời gian.
Nhiều doanh nghiệp mới triển khai dịch vụ chưa có đủ 03 nhân sự đáp ứng đồng thời cả ba tiêu chí: trình độ cao đẳng trở lên, 02 năm kinh nghiệm liên quan, và đã qua đào tạo về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là điều kiện bắt buộc theo điểm c khoản 2 Điều 22, không thể thay thế bằng cam kết bổ sung sau khi được cấp phép.
Khoản 4 Điều 22 yêu cầu hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân phải có kết quả đạt yêu cầu trước khi nộp hồ sơ xin giấy chứng nhận. Nếu tổ chức chưa từng lập hồ sơ này theo đúng nội dung tại Điều 19, hoặc hồ sơ bị đánh giá không đạt, toàn bộ quá trình xin giấy chứng nhận sẽ bị đình lại cho đến khi hoàn thiện.
Đề án thiếu khung quản trị rủi ro, kế hoạch đánh giá tuân thủ định kỳ, hoặc không nêu rõ phương án sử dụng dịch vụ định danh, xác thực điện tử là lỗi soạn thảo phổ biến. Cơ quan chuyên trách có quyền yêu cầu bổ sung trong 15 ngày, làm kéo dài đáng kể thời gian xử lý so với thời hạn 30 ngày tiêu chuẩn.
Tư vấn Long Phan hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện trọn gói thủ tục xin giấy chứng nhận, gồm:
Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua email info@longphanpmt.com hoặc Zalo 0906.735.386 để được đánh giá sơ bộ.
Trong quá trình xin và duy trì Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân, doanh nghiệp thường quan tâm đến thời hạn hiệu lực, phạm vi áp dụng, thời gian giải quyết hồ sơ và các trường hợp được miễn. Dưới đây là một số vấn đề cần lưu ý theo Nghị định 356/2025/NĐ-CP.
Nghị định 356/2025/NĐ-CP không ấn định thời hạn hiệu lực cụ thể cho giấy chứng nhận; theo Mẫu số 05 tại Phụ lục, giấy chứng nhận có hiệu lực kể từ ngày ký. Tuy nhiên, tổ chức phải duy trì đủ điều kiện đã được cấp và thực hiện đánh giá tuân thủ định kỳ 01 năm/lần theo khoản 3 Điều 23; nếu không duy trì điều kiện, giấy chứng nhận có thể bị thu hồi theo Điều 27.
Có. Theo Điều 2 Nghị định 356/2025/NĐ-CP, đối tượng áp dụng bao gồm cả cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Doanh nghiệp FDI kinh doanh một trong 09 nhóm dịch vụ tại Điều 21 vẫn phải xin giấy chứng nhận như doanh nghiệp trong nước, và không thuộc diện miễn trừ theo Điều 41 nếu đây là ngành nghề kinh doanh chính.
Theo Điều 25, quy trình gồm 10 ngày thẩm định tính đầy đủ hồ sơ và tối đa 30 ngày thẩm định nội dung kể từ khi hồ sơ hợp lệ, tổng cộng khoảng 40 ngày nếu hồ sơ đạt yêu cầu ngay từ đầu. Trường hợp phải bổ sung hồ sơ, thời gian thực tế kéo dài thêm tối đa 15 ngày cho mỗi lần bổ sung theo yêu cầu của cơ quan chuyên trách.
Điều 21 và Điều 22 Nghị định 356/2025/NĐ-CP xác lập đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, bắt buộc phải có giấy chứng nhận trước khi cung cấp dịch vụ. Kinh doanh khi chưa được cấp giấy chứng nhận là hành vi vi phạm điều kiện kinh doanh, bị xử lý theo quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân, ngoài ra còn tiềm ẩn rủi ro bị đình chỉ hoạt động khi bị kiểm tra theo Điều 31.
Khoản 2 Điều 41 miễn cho hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ thực hiện một số nghĩa vụ tại Điều 21, Điều 22, khoản 2 Điều 33 của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân. Tuy nhiên, việc miễn trừ này không áp dụng nếu hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp siêu nhỏ kinh doanh chính dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân, xử lý dữ liệu nhạy cảm, hoặc đạt quy mô từ 100.000 chủ thể dữ liệu trở lên.
Theo Điều 24, Bộ Công an là cơ quan có thẩm quyền cấp, cấp lại, cấp đổi và thu hồi giấy chứng nhận. Bộ trưởng Bộ Công an giao cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân – đơn vị trực thuộc Bộ theo Điều 39 – trực tiếp tiếp nhận, thẩm định hồ sơ và thực hiện các thủ tục cấp phép trên thực tế.
Ba nguyên nhân thường gặp là: chưa có đủ 03 nhân sự đạt chuẩn năng lực theo khoản 2 Điều 13; hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân theo Điều 19 chưa được xác nhận đạt yêu cầu; và đề án đề nghị cấp giấy chứng nhận thiếu một trong các nội dung bắt buộc tại khoản 2 Điều 25, đặc biệt là khung quản trị rủi ro và kế hoạch đánh giá tuân thủ định kỳ.
Xin giấy chứng nhận xử lý dữ liệu cá nhân là điều kiện bắt buộc đối với 09 nhóm dịch vụ tại Điều 21 Nghị định 356/2025/NĐ-CP, không phải thủ tục tùy chọn. Doanh nghiệp cần chuẩn bị đồng thời điều kiện về nhân sự, hạ tầng và hồ sơ đánh giá tác động trước khi nộp hồ sơ, để tránh bị yêu cầu bổ sung làm kéo dài thời gian xử lý so với 30 ngày quy định. Tư vấn Long Phan sẵn sàng đồng hành cùng doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình này – liên hệ hotline 1900636389 để được tư vấn cụ thể theo mô hình kinh doanh của quý khách.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:









Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của công ty Tư vấn Long Phan chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng các chính sách pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến tư vấn cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Long Phan sẽ là nơi cung cấp giải pháp đáng tin cậy của Quý khách hàng.
Để lại email để nhận thông tin mới nhất từ chúng tôi