Điều Kiện Thành Lập Và Vận Hành Sàn Dữ Liệu Mới Nhất 2026

Mục Lục Bài Viết

Điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu là vấn đề pháp lý mới được luật hóa đồng bộ qua ba tầng văn bản: Luật Dữ liệu 2024, Nghị định 169/2025/NĐ-CP và Nghị định 314/2026/NĐ-CP — văn bản sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 25/9/2026. Tư vấn Long Phan phân tích đầy đủ căn cứ luật đầu tư áp dụng cho từng loại sàn, từng nhóm chủ thể, giúp doanh nghiệp xác định đúng vai trò được phép tham gia và tránh chuẩn bị hồ sơ sai hướng.

Điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu theo từng nhóm chủ thể
Điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu khác nhau giữa đơn vị vận hành sàn và chủ thể tham gia giao dịch.

Lưu ý quan trọng:

  • Điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu áp dụng khác nhau cho hai nhóm chủ thể: cơ quan được Nhà nước giao xây dựng sàn (theo Luật Dữ liệu 2024, Nghị định 169/2025/NĐ-CP) và tổ chức, cá nhân tham gia giao dịch trên sàn (theo Nghị định 314/2026/NĐ-CP).
  • Việc bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động của sàn dữ liệu phải tuân thủ đồng thời Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 và Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15.
  • Hợp đồng giao dịch dữ liệu trên sàn là hợp đồng điện tử, chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật Giao dịch điện tử 2023.
  • Nghị định 314/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 25/9/2026; trước mốc này, điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu vẫn áp dụng theo Luật Dữ liệu 2024 và Nghị định 169/2025/NĐ-CP.

Sàn dữ liệu là gì theo pháp luật Việt Nam hiện hành

Trước khi tìm hiểu điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu, doanh nghiệp cần nắm đúng khái niệm gốc để tránh nhầm lẫn giữa việc “lập sàn” và việc “tham gia sàn” — hai vai trò có căn cứ pháp lý và điều kiện hoàn toàn khác nhau.

Định nghĩa sàn dữ liệu theo Điều 42 Luật Dữ liệu 2024

Theo Điều 42 Luật Dữ liệu 2024 (Quốc hội thông qua ngày 30/11/2024, hiệu lực từ 01/7/2025), sàn dữ liệu là nền tảng cung cấp tài nguyên liên quan đến dữ liệu phục vụ nghiên cứu, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; cung cấp sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời là môi trường để giao dịch, trao đổi dữ liệu. Ngay tại điều luật gốc này, tổ chức cung cấp dịch vụ sàn dữ liệu đã được xác định là đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp nhà nước đáp ứng điều kiện và được cấp phép thành lập.

Phân loại sàn dữ liệu theo Điều 5 Nghị định 314/2026/NĐ-CP

Cụ thể hóa Luật Dữ liệu 2024, Điều 5 Nghị định 314/2026/NĐ-CP chia sàn dữ liệu thành hai nhóm:

  • Sàn dữ liệu quốc gia: do Trung tâm dữ liệu quốc gia thuộc Bộ Công an xây dựng, quản lý, vận hành tại địa chỉ https://sandulieuquocgia.gov.vn, cung cấp dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và dữ liệu do tổ chức, cá nhân khác cung cấp.
  • Các sàn dữ liệu khác: cung cấp dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành do cơ quan chủ quản của chính tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn đó quản lý, cùng dữ liệu do tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước cung cấp.

Theo khoản 4 Điều 5, cả hai loại sàn đều phải bảo đảm an toàn hệ thống thông tin từ cấp độ 3 trở lên theo pháp luật về an toàn thông tin mạng, và sàn dữ liệu khác bắt buộc kết nối, chia sẻ dữ liệu với Sàn dữ liệu quốc gia qua Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Theo Điều 1 và Điều 2 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, nghị định điều chỉnh hoạt động của tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu, hoạt động thử nghiệm dữ liệu, điều kiện tham gia giao dịch, điều kiện đối với dữ liệu được giao dịch, quy trình giao dịch, quản lý rủi ro và trách nhiệm các bên; áp dụng cho mọi cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân liên quan đến hoạt động trên sàn dữ liệu. Nghị định được ban hành căn cứ đồng thời trên Luật Dữ liệu 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, Luật Giao dịch điện tử 2023 và Luật An ninh mạng 2025, cho thấy tính liên ngành cao của lĩnh vực này.

Điều kiện thành lập, vận hành sàn dữ liệu quốc gia

Đây là mô hình do Nhà nước trực tiếp xây dựng và quản lý theo Luật Dữ liệu 2024, không mở cho doanh nghiệp tư nhân đăng ký thành lập.

Chủ thể xây dựng, quản lý, vận hành

Theo điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, Sàn dữ liệu quốc gia do Trung tâm dữ liệu quốc gia thuộc Bộ Công an xây dựng, quản lý, vận hành, giám sát, kiểm tra, đánh giá. Trung tâm dữ liệu quốc gia giao đơn vị trực thuộc tổ chức kinh doanh dịch vụ trên sàn này và, theo điểm đ khoản 2 Điều 5, không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo Nghị định 169/2025/NĐ-CP như các sàn dữ liệu khác — đây là điểm khác biệt về điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu giữa hai mô hình.

Chức năng giám sát, kiểm tra, đánh giá

Điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định Trung tâm dữ liệu quốc gia thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra, đánh giá đối với cả Sàn dữ liệu quốc gia lẫn các sàn dữ liệu khác, và việc quản lý, giám sát phải tách biệt với hoạt động trực tiếp vận hành sàn để bảo đảm tính khách quan, độc lập theo nguyên tắc quản trị dữ liệu tại Điều 4 Nghị định 314/2026/NĐ-CP.

Điều kiện thành lập, vận hành sàn dữ liệu khác

Đây là nội dung doanh nghiệp cần lưu ý nhất trong toàn bộ điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu, vì nhiều người nhầm tưởng có thể tự do đăng ký “kinh doanh sàn dữ liệu” như một ngành nghề thông thường.

Chủ thể được phép thành lập: chỉ đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước

Theo Điều 34 Nghị định 169/2025/NĐ-CP — văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Dữ liệu 2024 về hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu — tổ chức cung cấp hoạt động sàn dữ liệu, kể cả sàn dữ liệu khác ngoài Sàn dữ liệu quốc gia, phải là đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp nhà nước được thành lập, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thông thường không đủ điều kiện đứng ra thành lập sàn dữ liệu; đây là điểm khác biệt căn bản so với điều kiện thành lập sàn thương mại điện tử theo Luật Thương mại điện tử 2025 hay sàn giao dịch hàng hóa thông thường theo Luật Thương mại.

Điều kiện về nhân sự

Cùng theo Điều 34 Nghị định 169/2025/NĐ-CP, tổ chức xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoạt động sàn dữ liệu phải đáp ứng:

  • Người đứng đầu hoặc người đại diện theo pháp luật có trình độ đại học trở lên, trực tiếp hoạt động quản lý tại trung tâm dữ liệu, có ít nhất 03 năm kinh nghiệm liên quan đến quản lý dữ liệu và không thuộc các trường hợp bị cấm đảm nhiệm chức danh quản lý dữ liệu theo điểm a, b, c khoản 1 Điều 9 Nghị định 169/2025/NĐ-CP.
  • Có ít nhất 05 nhân sự trình độ đại học trở lên, trong đó tối thiểu 40% làm việc chính thức và 30% có chứng chỉ về khoa học dữ liệu, phân tích dữ liệu, quản trị dữ liệu, môi giới hoặc thẩm định dữ liệu.

Điều kiện về hạ tầng, an toàn thông tin và hồ sơ đề án

Theo Điều 34 Nghị định 169/2025/NĐ-CP và khoản 4 Điều 5 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, tổ chức phải có hạ tầng, trang thiết bị đặt tại Việt Nam, được kiểm định an ninh an toàn thông tin đạt cấp độ 3 trở lên theo pháp luật về an toàn thông tin mạng, kèm Đề án hoạt động sàn dữ liệu nêu rõ phương án công nghệ, lưu trữ, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025.

Điều kiện kết nối với Sàn dữ liệu quốc gia

Ngoài điều kiện chủ thể, nhân sự và hạ tầng nêu trên, khoản 4 Điều 5 Nghị định 314/2026/NĐ-CP còn buộc sàn dữ liệu khác phải bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với Sàn dữ liệu quốc gia thông qua Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu, dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của Trung tâm dữ liệu quốc gia — đây là điều kiện vận hành bắt buộc phát sinh sau khi sàn đã được cấp phép thành lập.

Điều kiện vận hành sàn dữ liệu khác về chủ thể, hạ tầng và kết nối
Sàn dữ liệu khác phải đáp ứng yêu cầu về chủ thể, nhân sự, hạ tầng an toàn thông tin và khả năng kết nối.

Cách doanh nghiệp tư nhân tham gia thị trường dữ liệu

Không đủ điều kiện thành lập sàn không có nghĩa doanh nghiệp đứng ngoài thị trường dữ liệu. Pháp luật hiện hành mở ba hướng tham gia hợp pháp cho khu vực tư nhân, song song với điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu dành cho khu vực công.

Tham gia với vai trò Bên bán, Bên mua

Theo Điều 16 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, mọi pháp nhân Việt Nam hoạt động hợp pháp, không trong quá trình chia tách, giải thể, phá sản theo Luật Doanh nghiệp đều được đăng ký giao dịch trên sàn dữ liệu để mua, bán quyền khai thác dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu.

Trở thành tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian, phân tích, tổng hợp dữ liệu

Khác với điều kiện thành lập sàn (giới hạn ở khu vực công), điều kiện kinh doanh dịch vụ trung gian dữ liệu hoặc dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu theo Điều 9 Nghị định 169/2025/NĐ-CP mở rộng hơn cho đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nói chung, không giới hạn doanh nghiệp nhà nước, miễn đáp ứng điều kiện về nhân sự chuyên môn và hạ tầng đặt tại Việt Nam được kiểm định an ninh an toàn thông tin. Đây là hướng đi khả thi nhất cho doanh nghiệp công nghệ, tư vấn dữ liệu muốn tham gia hệ sinh thái sàn dữ liệu mà không cần thỏa mãn điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu như một tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn.

Tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Theo khoản 4 Điều 16 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu thuộc danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư 2025 vẫn phải được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh tương ứng theo pháp luật chuyên ngành trước khi tham gia sàn.

>>>Xem thêm: Quy định mới về hợp đồng lao động điện tử, gắn mã định danh kiểm soát từ 1/7/2026 theo Nghị định 337/2025/NĐ-CP

Doanh nghiệp tư nhân tham gia sàn dữ liệu với vai trò bán, mua hoặc trung gian
Doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia thị trường dữ liệu với vai trò Bên bán, Bên mua hoặc cung cấp dịch vụ dữ liệu.

Bảy nguyên tắc bắt buộc trong hoạt động của sàn dữ liệu

Điều 4 Nghị định 314/2026/NĐ-CP đặt ra bảy nguyên tắc xuyên suốt, chi phối cả tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn lẫn các bên tham gia giao dịch, đồng thời là tiêu chí Trung tâm dữ liệu quốc gia dùng để đánh giá việc tuân thủ điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu trong quá trình hậu kiểm.

Tôn trọng quyền sở hữu, khai thác, sử dụng dữ liệu

Khoản 1 Điều 4 bảo đảm quyền tự do giao dịch, cấp quyền khai thác, đầu tư, kinh doanh sản phẩm dữ liệu của tổ chức, cá nhân theo Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ, không bị can thiệp hành chính tùy tiện.

Bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch

Khoản 2 Điều 4 yêu cầu việc niêm yết, giao dịch, hỗ trợ định giá dữ liệu phải công khai, minh bạch, tránh tình trạng ưu ái hoặc thao túng giá trên sàn — nguyên tắc này được cụ thể hóa thêm tại Điều 6 Nghị định 314/2026/NĐ-CP về xác định giá dữ liệu.

Bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật nhà nước

Khoản 3 Điều 4 là nguyên tắc trọng tâm nhất về mặt tuân thủ: mọi giao dịch, lưu trữ trên sàn phải tuân thủ đồng thời Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/7/2026) và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/01/2026) trong suốt vòng đời dữ liệu.

Nghiêm cấm lợi dụng sàn dữ liệu để mua bán dữ liệu cá nhân trái pháp luật

Khoản 6 Điều 4 Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định rõ: nghiêm cấm lợi dụng sàn dữ liệu để mua, bán dữ liệu cá nhân hoặc xử lý dữ liệu cá nhân trái pháp luật — nhất quán với quy định cấm mua, bán dữ liệu cá nhân trừ trường hợp luật khác cho phép tại Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025. Dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu có nguồn gốc từ dữ liệu cá nhân chỉ được giao dịch khi đã đáp ứng điều kiện khử nhận dạng theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025.

>>>Xem thêm: Các trường hợp doanh nghiệp không phải đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân

Điều kiện tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu của tổ chức, cá nhân

Điều 16 Nghị định 314/2026/NĐ-CP phân biệt rõ điều kiện theo từng nhóm chủ thể tham gia giao dịch, đây là nhóm điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu áp dụng cho phía người dùng chứ không phải tổ chức vận hành sàn.

Đối với tổ chức là pháp nhân Việt Nam

Theo khoản 1 Điều 16, tổ chức phải được thành lập, hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp; không đang trong quá trình chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể hoặc phá sản theo Luật Phục hồi, phá sản 2025.

Đối với tổ chức là pháp nhân nước ngoài

Theo khoản 2 Điều 16, pháp nhân nước ngoài phải được thành lập hợp pháp theo pháp luật nơi đặt trụ sở, đáp ứng điều kiện giao dịch theo Bộ luật Dân sự Việt Nam, đồng thời có hiện diện thương mại, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam theo Luật Đầu tư 2025 hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Đối với cá nhân

Theo khoản 3 Điều 16, cá nhân tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo Bộ luật Dân sự.

Đối với tổ chức kinh doanh ngành nghề có điều kiện

Theo khoản 4 Điều 16, tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu thuộc danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện bắt buộc phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo pháp luật chuyên ngành trước khi tham gia giao dịch.

Điều kiện đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ được phép giao dịch trên sàn

Dữ liệu đưa lên sàn phải qua kiểm tra, đánh giá, thẩm định của tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu theo Điều 17 và Điều 20 Nghị định 314/2026/NĐ-CP trước khi được niêm yết — đây là nhóm điều kiện gắn liền trực tiếp với đối tượng giao dịch, khác với điều kiện chủ thể đã nêu.

Điều kiện về tính hợp pháp và công bố thông tin

Theo khoản 1 Điều 17, dữ liệu phải có nguồn gốc hợp pháp, chứng minh bằng hồ sơ, tài liệu hợp lệ về việc thu thập, tạo lập hoặc nhận chuyển giao quyền khai thác phù hợp Luật Sở hữu trí tuệ; các điều kiện, hạn chế lưu thông (nếu có) phải được Bên bán công bố rõ ràng trong hồ sơ niêm yết.

Điều kiện kỹ thuật tối thiểu

Theo khoản 3 Điều 17, dữ liệu phải có định dạng thông dụng, bảo đảm khả năng đọc, khai thác, xử lý bằng máy; nếu cung cấp qua giao diện lập trình ứng dụng (API) phải có tài liệu hướng dẫn kết nối, mô tả cấu trúc dữ liệu, phương thức xác thực và phân quyền truy cập theo tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp ban hành.

Điều kiện riêng đối với dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành

Theo khoản 5 Điều 18 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, dữ liệu hình thành từ cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành chỉ được giao dịch khi thuộc phạm vi được phép chia sẻ theo Luật Dữ liệu 2024, được cơ quan chủ quản cho phép khai thác, không làm lộ bí mật nhà nước theo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước hoặc dữ liệu cá nhân theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, và có hồ sơ chứng minh quyền cung cấp hợp pháp.

Điều kiện đối với dữ liệu có nguồn gốc từ dữ liệu cá nhân

Theo khoản 6 Điều 4 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, dữ liệu có nguồn gốc từ dữ liệu cá nhân chỉ được giao dịch, kể cả đấu giá, khi đã khử nhận dạng và đáp ứng các yêu cầu khác theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025; riêng dữ liệu cá nhân chưa khử nhận dạng tuyệt đối không được đưa ra đấu giá theo khoản 6 Điều 11 Nghị định 314/2026/NĐ-CP.

>>>Xem ngay: Tư vấn giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ

Đăng ký tài khoản giao dịch và tài khoản thanh toán trên sàn dữ liệu

Điều 18 Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định quy trình gia nhập cụ thể cho từng nhóm chủ thể, tích hợp với hệ thống định danh điện tử quốc gia theo pháp luật về định danh và xác thực điện tử.

Đối với công dân, tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam

Theo điểm a, b khoản 1 Điều 18, đăng ký tài khoản giao dịch thông qua tài khoản định danh điện tử mức độ 2 trên VNeID hoặc phương thức khác do sàn dữ liệu cung cấp.

Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài

Theo điểm c khoản 1 Điều 18, nếu đã có tài khoản định danh điện tử mức độ 2 trên VNeID, áp dụng quy trình như chủ thể Việt Nam. Nếu chưa có, phải gửi đề nghị mở tài khoản theo mẫu ĐK01 ban hành kèm Nghị định 314/2026/NĐ-CP; hồ sơ, tài liệu pháp lý phải được chứng nhận hoặc hợp pháp hóa lãnh sự theo pháp luật về lãnh sự, trừ trường hợp được miễn theo điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại.

Yêu cầu về tài khoản thanh toán

Theo khoản 3 Điều 18, bên tham gia phải mở tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc ví điện tử tại tổ chức trung gian thanh toán theo pháp luật về hoạt động thanh toán, nằm trong danh mục do sàn dữ liệu công bố công khai; mọi giao dịch phải thực hiện qua tài khoản giao dịch và tài khoản thanh toán đã đăng ký.

Quy trình giao dịch, hợp đồng điện tử và phương thức thanh toán

Giai đoạn xác lập và thực hiện giao dịch được quy định chi tiết tại Điều 23 và Điều 24 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, dẫn chiếu trực tiếp Luật Giao dịch điện tử 2023.

Giao dịch phải xác lập bằng hợp đồng điện tử

Theo khoản 1 Điều 23, mọi giao dịch mua bán, trao đổi dữ liệu trên sàn phải được xác lập qua hợp đồng điện tử theo Luật Giao dịch điện tử 2023, giao kết ngay trên hệ thống thông tin của sàn, với các nội dung tối thiểu về giá trị, chất lượng, quyền và nghĩa vụ các bên, bảo mật và giải quyết tranh chấp.

Thanh toán không dùng tiền mặt, bằng đồng Việt Nam

Theo Điều 24, giao dịch thanh toán phải thực hiện qua tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán hoặc dịch vụ thanh toán được sàn công bố theo pháp luật về thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng đơn vị tiền tệ chính thức là đồng Việt Nam (VND).

Trách nhiệm lưu trữ hồ sơ và truy vết giao dịch

Đây là nghĩa vụ hậu giao dịch bắt buộc đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu theo Điều 25 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, gắn với pháp luật về lưu trữ.

Thời hạn lưu trữ tối thiểu 10 năm

Theo khoản 3 Điều 25, thông tin, hồ sơ, nhật ký phục vụ truy vết giao dịch phải được lưu trữ tối thiểu 10 năm kể từ ngày giao dịch hoàn thành theo pháp luật về lưu trữ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nội dung bắt buộc ghi nhận

Theo khoản 2 Điều 25, tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu phải ghi nhận đầy đủ thông tin Bên bán, Bên mua, tổ chức trung gian dữ liệu, thời điểm giao dịch, mã giao dịch, giá trị giao dịch, dấu thời gian và xác nhận kỹ thuật của hệ thống để phục vụ đối soát, thanh tra, kiểm tra và giải quyết tranh chấp khi cần thiết.

So sánh Sàn dữ liệu quốc gia và Sàn dữ liệu khác

Để nhận diện rõ sự khác biệt về chủ thể thành lập, điều kiện vận hành, nguồn dữ liệu và cách thức tham gia của doanh nghiệp tư nhân, có thể đối chiếu hai loại sàn dữ liệu theo các tiêu chí sau:

Tiêu chí Sàn dữ liệu quốc gia Sàn dữ liệu khác
Căn cứ điều kiện thành lập Điều 42 Luật Dữ liệu 2024, Điều 5 NĐ 314/2026/NĐ-CP Điều 34 Nghị định 169/2025/NĐ-CP
Chủ thể thành lập, vận hành Trung tâm dữ liệu quốc gia, Bộ Công an Đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước đủ điều kiện
Doanh nghiệp tư nhân có được thành lập? Không Không
Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh Không phải xin (điểm đ khoản 2 Điều 5 NĐ 314/2026) Bắt buộc theo Nghị định 169/2025/NĐ-CP
Nguồn dữ liệu cung cấp CSDL tổng hợp quốc gia, CSDL chuyên ngành, dữ liệu ngoài nhà nước CSDL do cơ quan chủ quản của sàn quản lý, dữ liệu ngoài nhà nước
Địa chỉ vận hành sandulieuquocgia.gov.vn Do tổ chức được cấp phép tự vận hành
Yêu cầu kết nối Là đầu mối tra cứu tập trung (Điều 25 NĐ 314/2026) Bắt buộc kết nối với Sàn dữ liệu quốc gia
Doanh nghiệp tư nhân tham gia bằng cách nào Bên bán/Bên mua theo Điều 16 NĐ 314/2026, dịch vụ trung gian theo Điều 9 NĐ 169/2025 Tương tự Sàn dữ liệu quốc gia

Rủi ro và lỗi thường gặp khi tham gia sàn dữ liệu

Doanh nghiệp cần lường trước các tình huống dễ dẫn đến bị từ chối cấp phép, bị đình chỉ tài khoản hoặc vướng trách nhiệm pháp lý khi tìm hiểu điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu.

Nhầm lẫn giữa “thành lập sàn” và “tham gia giao dịch trên sàn”

Đây là lỗi phổ biến nhất: nhiều doanh nghiệp tư nhân tìm hiểu thủ tục “xin phép lập sàn dữ liệu” trong khi theo Điều 34 Nghị định 169/2025/NĐ-CP, chỉ đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp nhà nước mới đủ điều kiện, dẫn đến chuẩn bị sai hồ sơ và mất thời gian.

Bỏ sót điều kiện ngành nghề kinh doanh có điều kiện khi đăng ký giao dịch

Nếu sản phẩm, dịch vụ dữ liệu thuộc danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư 2025 mà chưa có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh tương ứng, hồ sơ niêm yết sẽ bị tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn từ chối theo Điều 20 Nghị định 314/2026/NĐ-CP.

Đưa dữ liệu cá nhân chưa khử nhận dạng lên sàn

Đây là vi phạm nghiêm trọng theo khoản 6 Điều 4 Nghị định 314/2026/NĐ-CP và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, có thể dẫn đến hủy niêm yết, tạm ngừng giao dịch và xử lý vi phạm hành chính theo pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu.

Không đáp ứng an toàn hệ thống thông tin cấp độ 3

Với tổ chức có ý định vận hành sàn dữ liệu khác, việc không đạt chuẩn an toàn hệ thống thông tin cấp độ 3 theo Luật An ninh mạng 2025 sẽ khiến hồ sơ xin Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh bị từ chối ngay từ khâu thẩm định theo Điều 34 Nghị định 169/2025/NĐ-CP.

Dịch vụ tư vấn điều kiện tham gia và tuân thủ pháp lý sàn dữ liệu tại Tư vấn Long Phan

Tư vấn Long Phan hỗ trợ doanh nghiệp rà soát điều kiện tham gia phù hợp trong bối cảnh điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu vừa được luật hóa, gồm các công việc cụ thể:

  • Đánh giá vai trò phù hợp: Bên bán, Bên mua, tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian hay dịch vụ phân tích, tổng hợp dữ liệu theo Nghị định 169/2025/NĐ-CP và Nghị định 314/2026/NĐ-CP.
  • Soát xét hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của dữ liệu, sản phẩm dữ liệu trước khi đăng ký niêm yết theo Điều 17, Điều 19 Nghị định 314/2026/NĐ-CP.
  • Tư vấn điều kiện ngành, nghề kinh doanh có điều kiện áp dụng cho sản phẩm, dịch vụ dữ liệu cụ thể của doanh nghiệp theo Luật Đầu tư 2025.
  • Hỗ trợ soạn thảo, rà soát hợp đồng điện tử giao dịch dữ liệu theo Luật Giao dịch điện tử 2023, điều khoản bảo mật và trách nhiệm các bên.
  • Tư vấn tuân thủ Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 và Luật An ninh mạng 2025 khi dữ liệu doanh nghiệp có yếu tố dữ liệu cá nhân.
  • Rà soát điều kiện đăng ký tài khoản giao dịch, tài khoản thanh toán theo đúng quy trình VNeID hoặc mẫu ĐK01 đối với chủ thể nước ngoài theo Điều 18 Nghị định 314/2026/NĐ-CP.

Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua email info@longphanpmt.com hoặc Zalo 0906.735.386 để được đánh giá sơ bộ.

Câu hỏi thường gặp về điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu

Dưới đây là một số vấn đề thường được doanh nghiệp quan tâm khi tìm hiểu về chủ thể được phép thành lập, thời điểm áp dụng quy định mới và phạm vi dữ liệu được giao dịch trên sàn dữ liệu.

1. Doanh nghiệp tư nhân có được tự lập sàn dữ liệu không?

Không. Theo Điều 42 Luật Dữ liệu 2024 và Điều 34 Nghị định 169/2025/NĐ-CP, chỉ đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp nhà nước đáp ứng điều kiện nhân sự, hạ tầng mới được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoạt động sàn dữ liệu. Doanh nghiệp tư nhân tham gia bằng vai trò Bên bán, Bên mua hoặc nhà cung cấp dịch vụ trung gian theo Nghị định 314/2026/NĐ-CP.

2. Nghị định 314/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ khi nào?

Nghị định 314/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 08/8/2026 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 25/9/2026 theo Điều 37 của Nghị định.

3. Dữ liệu cá nhân có được giao dịch trên sàn dữ liệu không?

Không được giao dịch dưới dạng dữ liệu cá nhân thuần túy. Theo Khoản 6 Điều 4 Nghị định 314/2026/NĐ-CP và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, dữ liệu cá nhân thuần túy không được mua bán trên sàn và tuyệt đối không được đấu giá theo Khoản 6 Điều 11 Nghị định 314/2026/NĐ-CP. Dữ liệu, sản phẩm có nguồn gốc từ dữ liệu cá nhân chỉ được giao dịch khi đã khử nhận dạng.

4. Doanh nghiệp nước ngoài muốn tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu Việt Nam cần điều kiện gì?

Theo Khoản 2 Điều 16 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp nước ngoài phải được thành lập hợp pháp tại nước sở tại và có hiện diện thương mại, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam theo Luật Đầu tư 2025 hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, doanh nghiệp phải hoàn tất đăng ký tài khoản giao dịch theo Điều 18 Nghị định 314/2026/NĐ-CP.

5. Hồ sơ, thông tin giao dịch trên sàn dữ liệu được lưu trữ bao lâu?

Theo Khoản 3 Điều 25 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu phải lưu trữ thông tin, hồ sơ, nhật ký phục vụ truy vết giao dịch tối thiểu 10 năm kể từ ngày giao dịch hoàn thành, trừ trường hợp pháp luật về lưu trữ có quy định khác.

6. Giao dịch trên sàn dữ liệu có bắt buộc lập hợp đồng điện tử không?

Có. Theo Khoản 1 Điều 23 Nghị định 314/2026/NĐ-CP dẫn chiếu Luật Giao dịch điện tử 2023, mọi giao dịch mua bán, trao đổi sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu trên sàn phải được xác lập bằng hợp đồng điện tử, giao kết trực tiếp trên hệ thống thông tin của sàn dữ liệu.

7. Sàn dữ liệu khác có bắt buộc kết nối với Sàn dữ liệu quốc gia không?

Có. Theo Khoản 4 Điều 5 Nghị định 314/2026/NĐ-CP, các sàn dữ liệu khác phải bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với Sàn dữ liệu quốc gia thông qua Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu, dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của Trung tâm dữ liệu quốc gia theo Luật Dữ liệu 2024.

Kết luận

Điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu tại Việt Nam được thiết kế theo hướng Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trên nền tảng Luật Dữ liệu 2024 và Nghị định 169/2025/NĐ-CP: chỉ đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp nhà nước đáp ứng đầy đủ điều kiện nhân sự, hạ tầng, an toàn thông tin mới được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoạt động sàn dữ liệu.Nếu doanh nghiệp cần rà soát điều kiện thành lập và vận hành sàn dữ liệu hoặc chuẩn bị hồ sơ giao dịch dữ liệu đúng quy định, Tư vấn Long Phan sẵn sàng hỗ trợ qua hotline 1900636389.

📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

  • Luật Dữ liệu 2024.
  • Luật Doanh nghiệp 2020.
  • Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025.
  • Luật An ninh mạng số 2025
  • Luật Giao dịch điện tử 2023
  • Luật Phục hồi, phá sản 2025
  • Nghị định 169/2025/NĐ-CP quy định về hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu.
  • Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động của sàn dữ liệu tại Việt Nam
  • Lưu ý: Các quy định pháp luật có thể thay đổi tùy theo thời điểm. Quý khách hàng vui lòng liên hệ trực tiếp Tư vấn Long Phan qua Hotline 1900.63.63.89 để được cập nhật thông tin tư vấn mới nhất.
Mục Lục Bài Viết
LIÊN HỆ TƯ VẤN
Gọi tư vấn ngay!
1900.63.63.89

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài Viết Liên Quan Cùng Danh Mục