
Đăng ký tư vấn
Một cá nhân nhận ủy thác đầu tư của cá nhân khác được pháp luật cho phép nếu giao dịch mang tính chất dân sự đơn lẻ, không thu phí quản lý thường xuyên và không núp bóng hoạt động kinh doanh có điều kiện như chứng khoán hay ngân hàng. Tư vấn Long Phan nhận thấy nhiều nhà đầu tư nhầm lẫn ranh giới này, dẫn đến rủi ro hợp đồng vô hiệu hoặc bị xử lý vi phạm hành chính, thậm chí hình sự. Bài viết phân tích căn cứ pháp lý, điều kiện hiệu lực hợp đồng và hướng dẫn thực hiện ủy thác đầu tư giữa cá nhân với cá nhân an toàn theo quy định pháp luật đầu tư hiện hành.

Lưu ý quan trọng:
Câu trả lời phụ thuộc vào tính chất của giao dịch: nếu là quan hệ dân sự đơn lẻ giữa hai bên xác định, cá nhân được phép nhận ủy thác; nếu mang tính kinh doanh có điều kiện, cá nhân không được phép thực hiện nếu chưa có giấy phép tương ứng. Hai trường hợp dưới đây phân định rõ ranh giới này theo quy định pháp luật hiện hành.
Cá nhân được nhận ủy thác đầu tư của cá nhân khác khi giao dịch tuân thủ nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận quy định tại Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 và đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015. Đây là quan hệ mang bản chất ủy quyền dân sự theo Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 về nguyên tắc giao kết hợp đồng: một cá nhân đưa tiền cho cá nhân khác đầu tư (mua cổ phiếu, góp vốn kinh doanh, đầu tư bất động sản) trên cơ sở tín nhiệm cá nhân, không thu phí dịch vụ quản lý mang tính thương mại thường xuyên, không quảng cáo huy động vốn từ công chúng.
Đặc điểm nhận diện của giao dịch dân sự hợp pháp: phạm vi hẹp (một hoặc một số cá nhân xác định), không lặp lại có hệ thống với nhiều khách hàng, không gắn với hoạt động quảng bá dịch vụ đầu tư ra công chúng.
Cá nhân không được phép nhận ủy thác đầu tư nếu hoạt động đó thực chất là kinh doanh dịch vụ quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán hoặc quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, bởi đây là kinh doanh ngành nghề có điều kiện chỉ dành cho công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được cấp phép theo khoản 28 Điều 4 và Điều 86 Luật Chứng khoán 2019. Tương tự, nếu hoạt động ủy thác thực chất là nhận tiền gửi hoặc cấp tín dụng dưới danh nghĩa “đầu tư”, cá nhân vi phạm hành vi bị nghiêm cấm tại khoản 2 Điều 15 Luật Các tổ chức tín dụng 2024, vốn chỉ cho phép tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cấp Giấy phép mới có quyền thực hiện hoạt động ngân hàng theo Điều 8 của Luật này.
Dấu hiệu nhận diện hoạt động kinh doanh có điều kiện trá hình dưới danh nghĩa “ủy thác đầu tư cá nhân”: thu phí quản lý hoặc phí dịch vụ đầu tư định kỳ, cam kết lợi nhuận cố định bất kể kết quả đầu tư thực tế, huy động vốn từ nhiều cá nhân không xác định, quảng cáo công khai để thu hút người ủy thác mới.
So sánh hai trường hợp:
| Tiêu chí | Ủy thác đầu tư dân sự (được phép) | Ủy thác mang tính kinh doanh (không được phép) |
| Số lượng bên ủy thác | Một hoặc một số cá nhân xác định, quan hệ tín nhiệm cá nhân | Nhiều cá nhân không xác định, huy động rộng rãi |
| Tính chất | Đơn lẻ, không lặp lại có hệ thống | Thường xuyên, có hệ thống, mang tính nghề nghiệp |
| Phí dịch vụ | Không thu phí quản lý mang tính thương mại | Thu phí quản lý, phí hoa hồng định kỳ |
| Cam kết lợi nhuận | Chia sẻ lãi/lỗ theo kết quả đầu tư thực tế | Cam kết lợi nhuận cố định, tách rời kết quả đầu tư |
| Căn cứ pháp lý | Điều 3, Điều 117, Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 | Điều 8, khoản 2 Điều 15 Luật Các TCTD 2024; Điều 86 Luật Chứng khoán 2019 |
| Hậu quả nếu vi phạm | Không phát sinh, giao dịch có hiệu lực nếu đủ điều kiện dân sự | Xử phạt hành chính, có thể bị truy cứu hình sự |
Ngay cả khi thuộc trường hợp dân sự được phép, hợp đồng ủy thác đầu tư giữa hai cá nhân chỉ phát sinh hiệu lực ràng buộc khi đáp ứng đầy đủ điều kiện về chủ thể, hình thức và nội dung theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Thiếu một trong các điều kiện này, hợp đồng có nguy cơ vô hiệu toàn bộ hoặc từng phần, khiến bên ủy thác khó đòi lại tài sản khi xảy ra tranh chấp.
Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng ủy thác đầu tư có hiệu lực khi chủ thể tham gia có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập; chủ thể tham gia hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Bên nhận ủy thác phải là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự tại thời điểm ký kết, không thuộc trường hợp mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực trong trường hợp luật có quy định, theo Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015; đối với hợp đồng ủy thác đầu tư giá trị lớn, các bên nên lập thành văn bản để làm căn cứ chứng cứ khi có tranh chấp, dù pháp luật không bắt buộc hình thức văn bản cho mọi trường hợp.
Nguyên tắc giao kết hợp đồng tại Điều 398 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép các bên tự do thỏa thuận nội dung, miễn không vi phạm điều cấm. Do bản chất gần với ủy quyền, các bên có thể áp dụng tương tự quyền và nghĩa vụ quy định cho hợp đồng ủy quyền tại Điều 562, Điều 565 và Điều 566 Bộ luật Dân sự 2015 để xây dựng điều khoản cho phù hợp.
Một hợp đồng ủy thác đầu tư cá nhân chặt chẽ nên có đầy đủ các nội dung sau:
>>>Xem thêm: Hướng dẫn soạn thảo hợp đồng hợp tác đầu tư

Khi hoạt động ủy thác đầu tư giữa cá nhân biến tướng thành hoạt động kinh doanh có điều kiện, bên nhận ủy thác phải đối mặt với hai nhóm rủi ro pháp lý sau, tùy theo mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm.
Cá nhân thực hiện hoạt động ngân hàng (nhận tiền gửi, cấp tín dụng dưới danh nghĩa ủy thác đầu tư) mà không phải là tổ chức tín dụng được cấp phép có thể bị xử phạt theo Nghị định 340/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, có hiệu lực từ ngày 09/02/2026, thay thế Nghị định 88/2019/NĐ-CP và Nghị định 143/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 88/2019/NĐ-CP. Nghị định này quy định cụ thể mức phạt đối với nhóm hành vi vi phạm quy định về quản lý, sử dụng giấy phép, hành vi bị nghiêm cấm và nhóm hành vi vi phạm quy định về cấp tín dụng, nhận ủy thác, ủy thác và hoạt động liên ngân hàng.
Nếu cá nhân nhận ủy thác đầu tư từ đầu đã có ý định gian dối để chiếm đoạt tài sản của bên ủy thác, hành vi có thể cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025). Trường hợp cá nhân nhận tiền ủy thác hợp pháp ban đầu nhưng sau đó dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt, không trả lại tài sản theo cam kết, hành vi có thể cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015. Ranh giới giữa hai tội danh này nằm ở thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt: trước khi nhận tài sản (lừa đảo) hay sau khi đã nhận tài sản hợp pháp (lạm dụng tín nhiệm).

Để hạn chế rủi ro tranh chấp và bảo vệ quyền lợi cho cả bên ủy thác lẫn bên nhận ủy thác, các bên nên tuân thủ trình tự xác lập hợp đồng chặt chẽ và lưu giữ đầy đủ tài liệu trong suốt quá trình thực hiện.
Bên ủy thác cần lưu giữ hợp đồng ủy thác đầu tư bản gốc, chứng từ chuyển tiền hoặc biên nhận giao tài sản, các báo cáo định kỳ của bên nhận ủy thác về tình hình đầu tư, và toàn bộ trao đổi liên quan đến việc thực hiện hợp đồng (tin nhắn, email, văn bản xác nhận). Đây là những tài liệu quan trọng để chứng minh quan hệ ủy thác thực tế và làm căn cứ khởi kiện dân sự hoặc tố giác hình sự nếu bên nhận ủy thác vi phạm nghĩa vụ.
>>>Xem thêm: Soạn hợp đồng hợp tác đầu tư chuyên nghiệp, bảo vệ quyền lợi
Tư vấn Long Phan hỗ trợ khách hàng thực hiện ủy thác đầu tư giữa cá nhân với các công việc cụ thể sau:
Quý khách có thể gửi hồ sơ vụ việc qua email info@longphanpmt.com hoặc Zalo 0906.735.386 để được đánh giá sơ bộ.
Dưới đây là các câu hỏi khách hàng thường đặt ra khi tìm hiểu quy định về cá nhân nhận ủy thác đầu tư của cá nhân khác.
Không bắt buộc trong mọi trường hợp. Theo khoản 1 Điều 119 và khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự có thể được xác lập bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể; hình thức chỉ là điều kiện có hiệu lực khi luật có quy định. Trường hợp thỏa thuận mang bản chất hợp đồng ủy quyền theo Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015 thì Bộ luật này cũng không quy định chung rằng hợp đồng ủy quyền phải lập thành văn bản.
Có khả năng cao. Nếu một cá nhân thường xuyên nhận tiền từ nhiều người không xác định để đầu tư, thu phí quản lý và cam kết lợi nhuận, hoạt động này mang bản chất kinh doanh dịch vụ tài chính có điều kiện, vi phạm Khoản 2 Điều 15 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 hoặc Điều 86 Luật Chứng khoán 2019 tùy loại hình đầu tư.
Bên ủy thác có quyền khởi kiện dân sự yêu cầu hoàn trả tài sản và bồi thường thiệt hại theo hợp đồng đã ký. Nếu có căn cứ cho thấy bên nhận ủy thác có thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhằm chiếm đoạt, bên ủy thác có thể tố giác hành vi theo Điều 174 hoặc Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 để cơ quan điều tra xem xét trách nhiệm hình sự.
Cam kết lợi nhuận cố định, tách rời hoàn toàn khỏi kết quả đầu tư thực tế, là dấu hiệu cho thấy giao dịch mang bản chất huy động vốn hoặc cấp tín dụng trá hình dưới danh nghĩa đầu tư, dễ bị coi là vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng tại Điều 8 và Khoản 2 Điều 15 Luật Các tổ chức tín dụng 2024.
Có thể, nhưng phải xem xét theo từng giao dịch cụ thể. Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, thỏa thuận giữa các bên phải đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và không vi phạm điều cấm của luật. Trường hợp việc ủy thác dẫn đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam của cá nhân nước ngoài thì còn phải tuân thủ Điều 5 và Điều 8 Luật Đầu tư 2025 về quyền đầu tư và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Việc phân biệt cần dựa vào nội dung và bản chất thỏa thuận. Trường hợp quan hệ mang bản chất ủy quyền, theo Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015, bên được ủy quyền thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền. Trong khi đó, theo Điều 504 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng hợp tác là thỏa thuận các bên cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.
Cá nhân được quyền nhận ủy thác đầu tư của cá nhân khác khi giao dịch giữ đúng bản chất dân sự đơn lẻ, không biến tướng thành hoạt động kinh doanh dịch vụ tài chính có điều kiện dành riêng cho tổ chức được cấp phép. Soạn thảo hợp đồng chặt chẽ, lưu giữ đầy đủ chứng cứ và xác minh tính hợp pháp của giao dịch trước khi giao tài sản là những bước cần thiết để bảo vệ quyền lợi các bên. Tư vấn Long Phan sẵn sàng hỗ trợ đánh giá và soạn thảo hợp đồng ủy thác đầu tư cá nhân, liên hệ hotline 1900636389 để được tư vấn cụ thể.
📚 Bài viết được tư vấn chuyên môn dựa trên hệ thống văn bản pháp luật sau:

Lưu ý: Nội dung bài viết công khai tại website của công ty Tư vấn Long Phan chỉ mang tính chất tham khảo về việc áp dụng các chính sách pháp luật. Tùy từng thời điểm, đối tượng và sự sửa đổi, bổ sung, thay thế của chính sách pháp luật, văn bản pháp lý mà nội dung tư vấn có thể sẽ không còn phù hợp với tình huống Quý khách đang gặp phải hoặc cần tham khảo ý kiến pháp lý. Trường hợp Quý khách cần ý kiến tư vấn cụ thể, chuyên sâu theo từng hồ sơ, vụ việc, vui lòng liên hệ với Chúng tôi qua các phương thức bên dưới. Với sự nhiệt tình và tận tâm, Chúng tôi tin rằng Long Phan sẽ là nơi cung cấp giải pháp đáng tin cậy của Quý khách hàng.
Để lại email để nhận thông tin mới nhất từ chúng tôi