Chuyển giao quyền tác giả là vấn đề được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm trong bối cảnh các sản phẩm sáng tạo ngày càng được khai thác rộng rãi về mặt thương mại. Chuyển giao quyền tác giả bao gồm hai hình thức chính là chuyển nhượng quyền sở hữu và chuyển quyền sử dụng, đòi hỏi các bên phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về hình thức hợp đồng và phạm vi quyền hạn. Bài viết dưới đây của Tư vấn Long Phan sẽ phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành và cung cấp giải pháp thực tiễn.
Chuyển giao quyền tác giả và những lưu ý quan trọng
Quy định chung về chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan
Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025), chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20, khoản 3 Điều 29, Điều 30 và Điều 31 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025) cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan. Cụ thể các quyền này bao gồm:
Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
Các quyền tài sản bao gồm:
Làm tác phẩm phái sinh.
Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm.
Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp sao chép tác phẩm chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp tác phẩm, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại.
Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.
Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, trừ trường hợp chương trình máy tính đó không phải là đối tượng chính của việc cho thuê.
Quyền tài sản của người biểu diễn bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:
Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình.
Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp sao chép cuộc biểu diễn chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại.
Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng.
Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản định hình cuộc biểu diễn của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao bản định hình cuộc biểu diễn đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm, ghi hình, kể cả sau khi được phân phối bởi người biểu diễn hoặc với sự cho phép của người biểu diễn.
Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn của mình, bao gồm cả cung cấp đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:
Sao chép toàn bộ hoặc một phần bản ghi âm, ghi hình của mình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp sao chép bản ghi âm, ghi hình chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025); sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp bản ghi âm, ghi hình, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại.
Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình, kể cả sau khi được phân phối bởi nhà sản xuất hoặc với sự cho phép của nhà sản xuất.
Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản ghi âm, ghi hình của mình, bao gồm cả cung cấp tới công chúng bản ghi âm, ghi hình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.
Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:
Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình.
Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần bản định hình chương trình phát sóng của mình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp sao chép chương trình phát sóng chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp chương trình phát sóng, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại.
Định hình chương trình phát sóng của mình.
Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản định hình chương trình phát sóng của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản định hình chương trình phát sóng đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Tác giả không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025), trừ quyền công bố tác phẩm; người biểu diễn không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại Khoản 2 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025).
Trong trường hợp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng phải có sự thoả thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có quyền chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác.
Quy định chung về chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 47 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025), chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 19, khoản 1 Điều 20, khoản 3 Điều 29, khoản 1 Điều 30 và khoản 1 Điều 31 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025), bao gồm:
Đặt tên cho tác phẩm. Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025).
Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
Các quyền tài sản bao gồm:
Làm tác phẩm phái sinh.
Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm.
Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp sao chép tác phẩm chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp tác phẩm, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại.
Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.
Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, trừ trường hợp chương trình máy tính đó không phải là đối tượng chính của việc cho thuê.
Quyền tài sản của người biểu diễn bao gồm độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:
Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình.
Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào trừ trường hợp sao chép cuộc biểu diễn chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại.
Phát sóng, truyền đạt đến công chúng cuộc biểu diễn chưa được định hình của mình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng.
Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản định hình cuộc biểu diễn của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao bản định hình cuộc biểu diễn đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao cuộc biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm, ghi hình, kể cả sau khi được phân phối bởi người biểu diễn hoặc với sự cho phép của người biểu diễn.
Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn của mình, bao gồm cả cung cấp đến công chúng bản định hình cuộc biểu diễn theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây:
Sao chép toàn bộ hoặc một phần bản ghi âm, ghi hình của mình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp sao chép bản ghi âm, ghi hình chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp bản ghi âm, ghi hình, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại.
Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Cho thuê thương mại tới công chúng bản gốc, bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình, kể cả sau khi được phân phối bởi nhà sản xuất hoặc với sự cho phép của nhà sản xuất;
Phát sóng, truyền đạt đến công chúng bản ghi âm, ghi hình của mình, bao gồm cả cung cấp tới công chúng bản ghi âm, ghi hình theo cách mà công chúng có thể tiếp cận tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn.
Tổ chức phát sóng có độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện các quyền sau đây:
Phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng của mình.
Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần bản định hình chương trình phát sóng của mình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp sao chép chương trình phát sóng chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp chương trình phát sóng, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại.
Định hình chương trình phát sóng của mình.
Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản định hình chương trình phát sóng của mình dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản định hình chương trình phát sóng đã được chủ sở hữu quyền thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.
Tác giả không được chuyển quyền sử dụng quyền nhân thân quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025). Người biểu diễn không được chuyển quyền sử dụng quyền nhân thân quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025).
Trong trường hợp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải có sự thoả thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu nhưng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng biệt của mình cho tổ chức, cá nhân khác.
Tổ chức, cá nhân được chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan có thể chuyển quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân khác nếu được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.
Quy định chung về chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan
Lưu ý quan trọng khi chuyển giao quyền tác giả và quyền liên quan
Khi tiến hành chuyển giao quyền tác giả, các bên cần đánh giá kỹ lưỡng các rủi ro liên quan đến phạm vi độc quyền và thời hạn bảo hộ. Việc thiếu hiểu biết về hệ quả của các điều khoản hợp đồng có thể dẫn đến việc mất quyền kiểm soát vĩnh viễn đối với tác phẩm hoặc chịu thiệt hại về kinh tế.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng “bán đứt”, tác giả sẽ mất hoàn toàn quyền sở hữu đối với các quyền tài sản đã chuyển giao. Theo Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025), thời hạn bảo hộ quyền tài sản kéo dài suốt cuộc đời tác giả và thêm 50 năm sau khi qua đời. Nếu chuyển nhượng vĩnh viễn với một khoản chi phí cố định ban đầu, tác giả và người thừa kế sẽ không được hưởng các lợi ích kinh tế phát sinh trong tương lai dài hạn.
Trong trường hợp chuyển quyền sử dụng, cần xác định rõ giới hạn về phạm vi lãnh thổ, thời gian và tính chất độc quyền. Nếu ký hợp đồng độc quyền không giới hạn thời gian, quyền tác giả đối với bản ghi có thể vĩnh viễn thuộc về bên nhận quyền, khiến tác giả không thể tự mình khai thác hoặc hợp tác với bên thứ ba. Điều này thường dẫn đến các tranh chấp “gậy bản quyền” trên các nền tảng số như YouTube, gây ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và doanh thu của nghệ sĩ.
Cần kiểm soát chặt chẽ việc làm tác phẩm phái sinh để bảo vệ quyền nhân thân. Nhiều trường hợp bên nhận chuyển giao thực hiện việc sửa đổi, biên tập tác phẩm làm sai lệch ý đồ nghệ thuật, gây phương hại đến danh dự tác giả. Hợp đồng chuyển giao cần có các điều khoản ràng buộc trách nhiệm bồi thường và giới hạn quyền can thiệp vào nội dung gốc của tác phẩm.
Dịch vụ tư vấn về chuyển giao quyền tác giả tại Tư vấn Long Phan
Tư vấn Long Phan cung cấp dịch vụ tư vấn toàn diện, hỗ trợ Quý khách hàng trong quá trình đàm phán và thiết lập các giao dịch về quyền tác giả. Với đội ngũ chuyên gia am hiểu sâu sắc về Luật Sở hữu trí tuệ, chúng tôi cam kết bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của các bên. Dịch vụ của chúng tôi được triển khai theo quy trình chặt chẽ với các nội dung trọng tâm sau:
Phân tích nhu cầu và tư vấn lựa chọn hình thức chuyển nhượng hoặc chuyển quyền sử dụng phù hợp.
Soạn thảo hợp đồng chuyển giao quyền tác giả với các điều khoản chặt chẽ về phạm vi quyền, phí bản quyền và giới hạn trách nhiệm.
Rà soát các hợp đồng có sẵn để phát hiện và loại bỏ các điều khoản bất lợi, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật hiện hành.
Tư vấn các phương án định giá tài sản trí tuệ để làm cơ sở cho việc xác định giá trị hợp đồng chuyển giao.
Đại diện Quý khách hàng tham gia đàm phán các điều khoản thương mại với đối tác trong và ngoài nước.
Đại diện thực hiện thủ tục ghi nhận sửa đổi văn bằng bảo hộ tại Cục Bản quyền tác giả sau khi hoàn tất việc chuyển nhượng.
Dịch vụ tư vấn về chuyển giao quyền tác giả tại Tư vấn Long Phan
Các câu hỏi thường gặp
Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp về chuyển giao quyền tác giả, mời quý vị tham khảo:
Sự khác biệt cơ bản giữa chuyển nhượng quyền tác giả và chuyển quyền sử dụng quyền tác giả là gì?
Chuyển nhượng là việc chủ sở hữu chuyển giao hoàn toàn quyền sở hữu các quyền tài sản (bán đứt), bên chuyển nhượng chấm dứt quyền của mình đối với các quyền đã chuyển. Ngược lại, chuyển quyền sử dụng (li-xăng) chỉ là việc cho phép bên khác khai thác tác phẩm trong một thời hạn và phạm vi nhất định, chủ sở hữu gốc vẫn giữ quyền sở hữu pháp lý đối với tác phẩm đó.
(Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 45 và Khoản 1 Điều 47 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025)
Tác giả có được phép chuyển nhượng toàn bộ quyền nhân thân cho bên mua hay không?
Không. Tác giả không được phép chuyển nhượng các quyền nhân thân gắn liền với danh dự và uy tín cá nhân như: quyền đặt tên, quyền đứng tên, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Quyền nhân thân duy nhất có thể được chuyển nhượng hoặc chuyển quyền sử dụng cùng với các quyền tài sản là quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
(Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 45 và Khoản 2 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025)
Người biểu diễn có quyền chuyển nhượng hình ảnh và danh tiếng của mình trong cuộc biểu diễn không?
Người biểu diễn sở hữu các quyền nhân thân (như quyền được giới thiệu tên, quyền bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn) và các quyền tài sản. Pháp luật quy định người biểu diễn không được chuyển nhượng các quyền nhân thân quy định tại Khoản 2 Điều 29. Do đó, họ chỉ có thể chuyển nhượng các quyền tài sản liên quan đến việc khai thác kinh tế từ cuộc biểu diễn đó.
(Căn cứ pháp lý: Khoản 2 Điều 45 và Khoản 2 Điều 29 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025)
Quyền “công bố tác phẩm” trong chuyển giao được hiểu như thế nào?
Quyền công bố tác phẩm là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý. Đây là quyền nhân thân đặc biệt có thể chuyển giao. Khi bên nhận chuyển nhượng sở hữu quyền này, họ có độc quyền quyết định thời điểm và phương thức đưa tác phẩm ra công chúng lần đầu tiên.
(Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 45 và Khoản 3 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025)
Nếu công ty giải thể, quyền tác giả đang sở hữu sẽ được xử lý ra sao?
Quyền tác giả là một loại tài sản vô hình. Trong trường hợp tổ chức là chủ sở hữu quyền tác giả bị giải thể hoặc phá sản, quyền tài sản đối với tác phẩm đó sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật về giải thể, phá sản doanh nghiệp (thường là thanh lý tài sản hoặc chuyển giao cho chủ thể khác).
Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025).
Có thể chuyển nhượng quyền cho thuê bản gốc tác phẩm điện ảnh không?
Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh là một quyền tài sản quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025. Chủ sở hữu hoàn toàn có quyền chuyển nhượng hoặc chuyển quyền sử dụng quyền này cho các đơn vị kinh doanh dịch vụ phân phối hoặc chiếu phim để khai thác thương mại.
(Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 45 và Khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, 2025)
Việc chuyển giao quyền tác giả là bước đi chiến lược trong khai thác thương mại tài sản trí tuệ nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Để đảm bảo giao dịch diễn ra an toàn và tối ưu hóa lợi ích, Quý khách hàng cần sự tư vấn chuyên sâu từ các chuyên gia. Hãy liên hệ ngay vớiTư vấn Long Phan qua Hotline 1900636389 để được hỗ trợ thẩm định và soạn thảo hồ sơ chuyển giao chuẩn xác nhất.
Luật sư Nguyễn Thu Hương
Luật sư Nguyễn Thu Hương là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực đầu tư và giấy phép cho người nước ngoài. Với kiến thức sâu rộng về pháp luật đầu tư và các quy định phức tạp liên quan đến thủ tục cấp phép, bà đã hỗ trợ thành công nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài thiết lập hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.